Truyện VNAF

Eo núi tạo bởi hai đỉnh non cao mây trắng phủ lưng chừng ngọn, mở ngõ vào như một miệng hang mà những đuôi mây thả lửng lơ tựa hồ thạch nhũ hay như những chiếc nanh của hàm rồng há chực và chúng tôi là những con mồi ngoan ngoãn rủ nhau tự hiến. Non thần mở cửa đón đợi chúng tôi. Chiếc cửa không lồ cạm bẫy mà khi rong ruổi bay vào, tôi nghe rờn rợn trong lòng cảm giác một loài sinh vật tế thần đang bị thôi miên, riu ríu nạp mình giữa hàng nanh nhọn hoắt.
Đường bay tiến vào Dak Pek hay đường lên trời? Mây hay lưới bẫy mưu toan xập bắt? Gió. Những ngọn gió bất kham từ đỉnh non quật xuống từ chân núi cuộn lên. Con tàu chòng chành nghiêng ngả, con tàu như thể mảnh thuyền vô tội lao đao trên ngọn ba đào vùi dập làm tôi phải chân đạp tay kìm, vất vả đưa con tàu qua khỏi vùng non hiểm hóc. Những cơn chật vật thế này đều đã thân quen cảm giác, đều đã bao lần hứng chịu. Đường bay thông thuộc trong lòng. Rừng núi không còn xa lạ bao tháng năm dài đi lại. Tôi cứ bay về hướng Bắc, theo dòng suối lượn trong lòng thung lũng hẹp, theo dấu đường mòn ẩn hiện dưới vòm vây cỏ hoang vu. Kia rồi những quả đồi non tròn san sát ngỏn ngang như mồ mả. Tôi thấy hiện rõ, Dak Pek!
Dak Pek tiền đồn là nguyên quả đồi đất đỏ với chập chùng hào lũy vây quanh. Quả đồi lớn nhất giữa những quả đồi trơ trụi có dòng suối nhỏ ấp ôm. Từng lớp rào tre, từng vòng cây rừng vót nhọn viền quanh, với thép gai, với hào chông tua tủa từ chân đến đỉnh đồi làm chiến lủy phòng thủ cái tiền đồn nhỏ bé. Những lớp hào lũy kiên cố ấy và dẫy pháo đài lụp xụp bốn hướng toàn lỗ châu mai, tạo thành những vòng tròn điểm tâm động là ngọn cờ vàng tung bay phất phới. Khu hầm chỉ huy tua tủa cần phát tuyến và dây trời giăng mắc như lưới nhện. Trên những ngọi đồi xa, từng chòi lá lênh khênh hướng mắt canh chừng một dải rừng già âm u của rặng Trường Sơn bí hiểm. Rừng ám tối dẫy đầy ma quỷ ẩn thân. Loài quỷ yêu ma ngày đêm rình rập, hét hò bắn giết, đoạt chiếm tiền đồn, mở cửa cao nguyên, tràn vào Dak To, Tân Cảnh.
Dak Pek tiền đồn, tôi đã bao lần bay đến nhưng tuyệt nhiên chưa từng đặt chân lên mặt đất nơi này. Trực thăng thường chỉ đáp xuống bãi ruộng khô bên dòng nước bọc chân đồi phía Đông và đậu ở đó một khoảng thời gian ngắn ngủi cho việc thả đồ tiếp tế hay đón thương binh rồi hối hả bốc mình bay về Kontum xa lắc.
Chỉ là một khoảng thời gian cực kỳ ngắn ngủi và vô nghĩa trong cả đời dài mòn mỏi, nhưng tôi cũng đủ thì giờ say đắm thả hồn lững thững phiêu du trong phần cảnh đẹp của muôn vàn cảnh đẹp quê hương yêu dấu. Có khi là buổi sáng mờ sương, cạy cỏ tỏa hương thơm trong gió dịu dàng. Có khi là buổi chiều vàng, mây trắng nuột nà sáng rỡ bồng bềnh trên thảm trời xanh. Đồi núi chập chùng cũng rợn màu xanh báy ngát. Buổi chiều mặt trời ở phương Tây, lẩn sau mây núi, tỏa hào quang rực rỡ rừng chiều, thàn tiên cảnh đẹp…
Tôi thường ngồi ngây dại trong phòng lái nhìn qua vuông cửa ngỏ. Tiếng máy bay êm trầm mơ vọng từ cõi xa dẫn tôi phiêu diêu thàn trí quay về Dak Pek sừng sững trước nhãn quan, rào tre tua tủa chọc trời, hào lũy nhấp nhô, ngọn cờ vàng lộng tung trước gió. Tôi tưởng đâu đây ngập tràn linh khí tiền nhân. Như hiển hiện chóa lòa một núi lam hùng vĩ của đoàn trai áo vải dựng cờ khởi nghĩa. Cờ xí ngợp trời, người ngựa và gươm đao lấp loáng. Tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, vùng non khí thiêng cao nhất. Tôi tưởng như thấy cảnh tưng bừng một sáng mùa xuân cũ:
“Bóng quân đi theo từng hơi gió miền xa vời
Vầng ô lên sương tan mờ trong khe núi
Bước quân đi theo tiếng chiêng oai hùng rơi…”
Dak Pek tiền đồn, từ dưới ngước nhìn lên, thât vô cùng hùng vĩ. Tất cả đếu vươn cao. Rào cây vót nhọn. Chòi canh. Vọng gác. Cột cờ. Những cột ăng-ten cung những bóng người đứng trên các lô-cốt cao nhìn xuống… Tất cả đều đứng thẳng, in hình sắc nét trên nền trời. Oai hùng ngạo mạn. Khiến tôi nghe huyết quản bừng bừng lòng yêu đất, bừng bừng cơn giục giã tôi phóng mình ra khỏi chiếc phi cơ chật hẹp. Để bay biến chạy lên đồi hòa mình nhập cuộc với người với cảnh uy nghi hùng tráng nơi đây. Tôi cũng là một người trai áo vải đứng hiên ngang trên lồng lộng cao. Bàn tay nắm chặt đốc gươm, sôi nổi trong lòng tình yêu thương đất, mắt ngời ngợi lửa căm thù, ngạo nghễ hướng về phương Bắc…
Khốn khổ thân tôi sao quá giàu tưởng tượng. Chết vẫn không chừa cái tật ôm ngang ảo mộng như đầu óc trẻ thơ. Nào đâu ngựa hí quân reo? Nào đâu gươm đao chiến sử? Những người cằn cỗi đứng bên rào kẽm gai dầy. Những súng thập thò trong miệng lỗ châu mai. Những hố bom dễ sợ, những bãi mìn xâm lấn tới nương rẫy nghèo nàn của một sắc dân thiểu số. Ôi cảnh bình yên bất trắc nào thi vị chi đâu mà tôi hình dung ra cảnh nước non Lam Sơn chất ngất bao hùng khí?..
Tôi lượn một vòng trên Dak Pek. Chiếc phi cơ của Lộc phóng đuổi theo sau. Dưới chân đồi, nơi thửa ruộng khô làm bãi đáp, một trái khói xanh cuồn cuộn bốc lên mừng rỡ. Dường như tất cả mọi người trong trại và ngoài nương rẫy đều bỏ dở việc làm chạy túa ra khoảng trống nhìn lên hai chiếc trực thăng. Trẻ con nhảy cẫng reo hò vẫy đón. Ở những nơi đồn ải xa xôi, đường bộ thông thương - hàng mười mấy năm trời không một vết chân héo lánh kể từ ngày quê hương mất thanh bình - đã thành những con đường chết, rừng bụi chen nhau phủ kín thi hài phi tang dấu vết trên bản đồ... Thì đường không vận là sợi giao liên duy nhất đối với các tỉnh thị trấn và những chiếc trực thăng mỗi lần xuất hiện, như thể những cánh én đem mùa xuân ấm đến miền đông giá.
Chúng tôi bay tiếp tế cho Dak Pek -- lượt đi, chuyến về; đếu cho vợ con lính tráng đi quá giang về Kontum. Đã 28 Tết rồi, chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek , ngay ngày niên thủ. Quân bố phòng, súng đạn đầy đủ; nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân; kệnh di tản vợ con lính tráng về hậu cứ; để, họ rảnh tay phòng thủ đồn lũy. Vướng bận thê nhi, khó vững tâm chiến đấu.
Chúng tôi bay tiếp tế cho dak pek lượt đi, chuyến về cho vợ con lính quá giang về Kon tum tùy khả năng chuyên chở. Hai mươi tám Tết rồi. Chiến dịch Đông Xuân đe dọa nuốt chửng tiền đồn Dak Pek ngày niên thủ. Quân bố phòng và súng đan đầy đủ nhưng lương thiếu. Không Tết, không Xuân, lệnh di tản vợ con lính về hậu cứ để họ rảnh tay chống giặc. Vướng bận thê nhi khó vững tâm chiến đấu.
Tôi đáp phía trên trái khói, sát bờ ruộng bắp xác xơ nhường cho Lộc khoảng đất phía sau, hạ cánh. Hai chiếc H-34 gầm rú ồn ào, kềnh càng sa xuống bãi. Cuộn khói màu dày đặc bị đánh tan thành sợi mỏng, bay cuống quýt nhiễu nhương cùng bụi đất. Mùi khói hôi khét. Đất cát mịt mùng. Những lá ngô đồng khô héo bay hoảng hốt tưng bừng trời đất.
Đám người tụ tập bên ruộng bắp lúp xúp chạy ùa ra bãi đậu khi hai chiếc phi cơ đã nằm yên, thở gầm gừ, thôi quạt mù bụi đỏ. Đàn bà dắt díu trẻ thơ, đàn ông tay ôm tay xách. Những gương mặt lam lũ nghèo khổ cắm cúi bước những bước chân dài khấp khểnh trên mặt ruộng khô lồi lõm. Họ lếch thếch sau chiếc băng ca trên đó tùm hụp một thân thể chăn phủ kín mặt chỉ lộ ra mái tóc đàn bà xác xơ rũ rượi.
Cung thúc hối người Hạ sĩ quan cơ phi:
--Kêu mấy người lính tiếp tay bỏ đồ xuống lẹ đi Tuyên. Mình chở người bệnh với ít hành khách. Còn cho lên chiếc sau.
Tuyên trả lời qua dây interphone:
--Tàu sau chở không hết đâu ông ơi. Tôi cho lên bốn người nữa. Tất cả mười lăm mạng!
--Mười lăm?... Ô kê, thử coi.
Đoạn Cung dùng VHF:
--Số hai xong chưa?
--Xong! Cất cánh đi.
Cung ra hiệu cho tôi bằng ngón tay cái. Tôi tống ga. Tiếng máy rú lên ròn rã.
--Số một lên!
Chiếc trực thăng nặng nề nhâc hỗng đôi càng, chúi mũi bay rời mặt đất.
Tôi lượn một vòng giã từ Dak Pek đoạn lấy độ cao bay về Kontum. Ngược hướng phi hành cũ, vẫn bấy nhiêu núi rừng xanh um quen thuộc chập chùng câm lặng dưới tầm mắt. Tôi bay cao bốn ngàn hai trăm bộ, núi bộ đồi cây lá tắm sũng nắng chiều, quang sạch, sau cơn mưa hồi sáng. Tôi bay trên mây như lướt trên từng khối bông nõn hình thu kỳ dị. Nắng xiên khoai của buổi chiều êm đẹp in rõ hình nét hai chiếc phi cơ những phiến mây dày và đôi bóng cặp kè bay lướt như thể, nắng phản chiếu qua những hạt mây vân vi tạo thành đôi vòng hào quang bảy sắc cầu vồng in rõ trên mấy, tuyệt đẹp.
Tôi bay bình thản, tay vịn hững hờ cần lái. Cung vẫn ngồi ghếch chân lên thành cửa cockipit, miệng phi phào điếu thuốc. Khuôn mặt nắng gió trông nghiêng. Nền trời. Những cụm mây bay ngược. Khói thuốc mỏng manh dìu dặt, một vài sợi tóc lóa xòa trên vầng trán suy tư. Dưới chiếc nón bay úp nặng, đôi mắt Cung đăm chiêu một cách mơ màng. Tự nhiên tôi thấy Cung có dáng vẻ lạ lùng xa xôi mà cũng thật gần gũi tôi hơn bao giờ hết. Tôi hỏi thầm, tại sao một thằng tục tằn như nó lại có thể xuất thần mang một nét mặt dễ thương, lãng mạn như vậy?
Có gì trong cõi trời mây thăm thẳm để Cung nhìn thấy? Hay tìm kiếm những hình ảnh đẹp đẽ nào chạm trổ trên mây? Hay lắng nghe được những âm thanh êm ái tỏ tình của không gian ngà ngọc mà Cung bỗng trở nên trầm mặc mơ màng như thế? Bên trong vầng trán phong trần kia, tôi nghĩ phải đang ấp ủ một niềm suy tưởng thanh cao, một niềm sung sướng lâng lâng phiêu hốt. Đời phi công bay bổng lưng trời, không gian thắm thiết, thường rất nhiều phút giây buông thả tâm hồn trên nẻo đường mây rộng thênh thang. Rất dễ dàng thoát tục. rất dễ dàng quên phiền muộn. Rất dễ dàng gợi nhớ, dắt đưa trí óc về vùng hồi tưởng say sưa có ngàn nỗi thiết tha, trùng trùng kỷ niệm xinh tươi đằm thắm mà ta hằng yêu dấu. Như quay về dĩ vãng êm ả óng chuốt một thời thơ ấu thần tiên. Hay bâng khuâng hoài niệm những cuộc tình lỡ trong đời chẳng hạn…
Cung lúc đó là một Cung nào rất khác. Đang thả hồn phiêu du trên cõi trời cao tít tắp. Thanh thản, mơ màng quên bẵng đời thống khổ. Cung trẻ thơ và dễ thương, không phải Cung lúc nào cũng bắt tôi nhìn thấy mặt là liên tưởng đến những xì, đầm, già, bồi…
Giữa lúc tôi đang lẵng lặng vừa bay vừa loay hoay nghĩ về Cung thì nghe có điều gì bất ổn dưới cabin hành khách. Dường như có sự hỗn loạn xôn xao di động khiến chiếc phi cơ đang lướt êm bỗng chòng chành. Rồi với nón bay úp kín đôi tai, vang hơn cả tiếng động cơ rền rền quen thuộc, tôi nghe vọng từ bên dưới một chuỗi tiếng thét bi ai thảm thiết. Tôi sửng sốt. Tiếng kêu vỡ của cùng cực đau đớn. Ngẩn ngơ chưa kịp bấm nút âm thoại hỏi thì Tuyên đã hốt hoảng kêu lên:
--Chết cha. Bà… bà này đau đẻ!
Cung ném vội điếu thuốc, cấp kỳ chụp lấy đôi cần lái:
--Tao bay. Tao bay cho. Tàu mình có y tá không Tuyên?
--Có, có 'bác sĩ vườn’ rồi. Ổng đang lo đây. Ghê quá. Trời ơi ghê quá!
Tuyên la hoảng rồi như sững sờ trước cảnh tượng gì ghê gớm quá, hắn đờ người cứng tay bấm chặt nút interphone khiến âm thoại nổi lên chuỗi rè chói tai. Tôi gắt:
--Làm gì ồn vậy? Buông tay ra.
Tiếng rè vụt tắt.
--Ghê quá ông ơi.
Cung quát lớn:
--Mẹ, người ta đẻ chứ gì mà ghê? Chở xác chết hoài sao không 'ghê' đi?
--Xác chết thì quen chứ từ nhỏ tới lớn tôi có thấy đàn bà đẻ bao giờ đâu mà không ghê? Ông xuống đây mà coi!
--Coi?... Coi cái củ kiệu! Đừng làu bàu nữa, đồ ‘hữu dõng vô mưu’!
Tôi bật cười phì khi nghe Cung sì nẹc gã cơ phi. Tiếng người đàn bà bên dưới lại thét rú lên khiến tôi gai người. Chợt nhớ Lộc bay sau, tôi gọi:
--Lộc ơi! Tàu moa có người đẻ rơi.
Im một khắc, như thể ngạc nhiên bởi chuyện bất ngờ hi hữu đó, Lộc mới hỏi lại:
--Thiệt sao bồ? Người hồi nãy khiêng băng ca lên đó hả? Đẻ chưa?
--Chưa. Chắc đang chuyển bụng… Bả la quá. Thằng Tuyên cũng la quá làm tụi này chới với luôn.
--Mấy bồ đóng cửa lại không gió vô. Y tá có găng cao su, có đồ hộ sinh không?
Tôi vội vã kéo kín cửa cockpit phía tôi. Cung cũng làm như thế.
--Làm gì có. Túi cứu thương đựng ba cái bông băng thuốc đỏ vớ vẩn chẳng biết có làm chi được không.
Bỗng lại nghe tiếng rú xoáy lộng trong đầu. Tôi thấy rõ bàn tay tôi tì trên thành ghế lái run run vì kích động. Ít mồ hôi rịn nhớp cả lòng bàn tay.
--Sao vậy Tuyên?
--Ghê quá ông ơi!
Mọi cửa đã kín mít không lọt một chút gió. Bấy giờ tôi mới nhận thức bằng khứu giác một thứ mùi khó chịu hòa lẫn mùi dầu nóng. Tôi choáng váng ngột ngạt. Cung nhăn nhó bay trong khi tôi chịu đựng nhịn thở, co tay mở hé khung kính phòng lái và lỗ thông gió trên trần cockpit tìm thoáng khí.
--Ra chưa Tuyên? Đứa con ra chưa?
--Chưa. Mới ló cái bàn chân nhỏ xíu.
Giọng Tuyên khó khăn như người nghẹt mũi. Tôi nói:
--Vậy là đẻ ngược rồi. Hèn chi sinh khó. Dak Pek chắc không có mụ.
Lộc lại hỏi vọng ra:
--Đẻ chưa mấy già?
--Chưa. Bà này sinh khó, đẻ ngược. Đứa nhỏ mới thò ra cái chân, không rõ sống hay chết. Hy vọng là sống. Mình bay cao, áp xuất ít có lẽ đứa nhỏ ra dễ…
Tùng bây giờ mới chen một câu:
--Hên! Vậy bữa nay tụi mình trúng mối rồi. Hên nhé! Ăn Tết tha hồ ngon.
Không ai trả lời câu đùa của Tùng. Tùng nhắc tôi mới nhớ đến tết và Xuân. Chỉ còn hai ngày nữa là sang năm mới. vậy mà đến giờ phút này tôi vẫn thờ ơ, hay quên lửng bởi ngày ngày bay bổng phờ người có vui thú chi đâu mà nhớ. Nỗi mừng vui háo hức trẻ thơ ngày cũ đã mất từ lâu. Còn những một tuần biệt phái Kontum. Nhìn núi rừng, nhìn thiên hạ, chúng tôi biết có Xuân nhưng chúng tôi năm nay thực tình không có Tết.
Chúng tôi vẫn bay, hối hả thu ngắn đường trường. Tôi đốt điếu thuốc hầu trấn tĩnh cơn phập phồng lo lắng.
Lo lắng, tôi thương cho số phận đứa hài nhi và sinh mạng người sản phụ. Người đàn bà vợ lính hoàn toàn xa lạ. Người mẹ nằm trên chiếc băng-ca đã có hàng trăm lớp máu thương binh và xác chết thấm vào thớ vải. Cái nhân lực phụ nữ mỏng manh kia đang vật vã chống chỏi với cơn đau hẳn rằng ghê gớm lắm trong cái nhà hộ sinh bay giữa không gian với không một bàn tay chuyên môn, không một y cụ hộ sản. Như thế, liệu có bao phần may mắn? Và đứa con. Một hài nhi vô tội. Niềm ao ước hằng chờ đợi hay gánh nặng phải cưu mang ngoài ý muốn. Dù sao thì hài nhi cũng là một sinh vật có nhân linh, cũng là mầm sống kết tinh bắng một tình yêu bao tháng năm dài được dưỡng nuôi trong cơ thể người mẹ. Bây giờ nó sắp thoát ra khỏi bào thai tăm tối. Nó phải thấy ánh sáng. Nó phải được thở khí trời. Nó phải lớn khôn để trông thấy đời, thấy nỗi thống khổ của cha, nỗi nhọc nhằn của mẹ.
Nỗi nhọc nhằn của người vợ lính bôn ba cơ cực theo gót hành quân người chồng chinh chiến. Cái tình người bi thảm gắn liền với cuộc chiến triền miên tàn khốc. Cái hạnh phúc tang thương nở rụt rè giữa miền đất điêu linh khói lửa. Tôi đã ngày ngày trông thấy những mảnh đời lầm than sống mỏi mòn trên các tiền đồn hiu quạnh, trong hạnh phúc quá đỗi tầm thường bất trắc. Tôi ngậm ngùi thương thân phận những người lính chiến Việt nam khổ nhọc. Đừng nói gì đến cảnh hành quân lặn lội gian nan nguy hiểm. Đừng nói gì đến những sự hy sinh, đến những mảnh thịt xương rơi rớt. Hay nói đến thảm kịch là nỗi bất hạnh đắng cay một đời gánh chịu. Hãy mở mắt nhìn những cảnh lính nghèo cùng vợ con nheo nhóc. Cũng là những con người đấy. Nhưng là những con người có khi không bao giờ thấy ánh điện muôn màu thành phố. Những con người sống chui rúc như loài chuột bọ trong các hầm hố. Cũng là những mái gia đình đấy. Nhưng mái ấm gia đình chỉ là một hai mảnh poncho mong manh hứng gió trên đỉnh đồi cao. Lính cùng người vợ trẻ đáng thương, những đứa con thơ tội nghiệp.
Ở những nơi đó, ngày như hỏa ngục. Đêm như băng giá. Buồn bã và cô đơn. Thân phận hẩm hiu được phơi bày một cách thản nhiên cam chịu dưới nắng mưa nghiệt ngã. Họ lạnh lùng sống và chờ đợi. Chờ đợi những chuyến trực thăng tải lương khô và nước uống. Chờ đợi đột nhiên hàng tràng tiếng nổ tấn công, những quả đạn thù pháo kích… Ôi những linh hồn khốn khổ nào dám viễn mơ đến đời sung sướng, nào dám mộng tưởng đến một mai đất nước hòa bình? (Người chồng sẽ buông tay súng, thong dong vác búa lên rừng đốn tre xẻ gỗ dựng nhà trên mảnh đất quê hương. Vợ chồng chung sức cấy cày, nuôi nấng đàn con no cơm ấm áo, được ngày ngày cắp sách đến trường vui học như thuở đất nước thái bình cổ tích…)
Tiếng rên la thảm thiết của người vợ lính khiến tôi lại nghĩ đến cái bào thai mà định mệnh nào đưa đẩy cho chiếc phi cơ của tôi ngày hai mươi tám Tết bay lên Dak Pek rồi thành cái nhà hộ sinh bay giữa lưng trời để người Hạ sĩ quan Y tá phi hành bổng thành một cô mụ bất đắc dĩ đang đổ mồ hôi đỡ đẻ cho người đàn bà sinh khó với không một thứ y cụ hộ sản trong tay. Để chúng tôi phải bồi hồi lo lắng. Tôi ngồi trên ghế lái, chỉ nghe tiếng kêu la, cúi đầu sát gầm ghế cũng chẳng thấy gì ngoài mớ tóc tang thương rối bời quằn quại trên tấm băng ca. Tôi chỉ nghe và hỏi Tuyên cho biết từng biến cố, tinh thần căng thẳng tưởng tượng ra cảnh ghê gớm dị thường mà nếu tôi chứng kiến không hiểu sẽ có đủ can đảm ngó nhìn hay xây xẩm mặt mày.
Tôi thấp thỏm. Tôi đợi chờ. Tôi hy vọng. Trời vẫn trong xanh. Mây vẫn nõn và nắng dịu dàng. Mùa Xuân đang đến. Mùa Xuân hãy mở vòng tay đón đỡ đóa hoa sắp nở trên lưng trời Xuân ấm. Thời gian dài biết bao nhiêu. Nỗi hồi hộp trông mong dài tắt thở. Cho đến khi… Trời ơi, cho đến khi nghe tiếng Tuyên hét xong rồi, xong rồi… con gái. Tôi thở mạnh ra. Gương mặt tôi căng nở niềm hớn hở và tôi cười khi nghe tiếng khóc oe oe như tiếng hài đồng hát trong nhã nhạc mùa Xuân.
Tôi phải báo ngay cho Lộc, cho Tùng biết:
--Lộc ơi! Xong rồi, con gái... Nó khóc dễ thương. Phi đoàn mình phải đỡ đầu cho nó. Tên nó là Lê, Trần hay Nguyễn thị THẦN TƯỢNG. Được không hả Lộc?...
Đào Vũ Anh Hùng
(tr. 97- 111 "Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến", nxb vàng son, Saigon 1974)
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 49

Tôi gọi ly cà phê sữa với đĩa pâté chaud. Vừa xoay người toan kiếm chỗ ngồi, bỗng một vòng tay đột ngột quàng lấy cổ khiến tôi giật mình:
-- "Hi" Hùng! Bonjour bồ. Lâu quá mới thấy bồ, nhớ bồ quá bồ ơi. Không bay bổng gì sao mà qua đây ăn sáng vậy?
Tôi nhận ra ngay. Lối nói 'bồ bồ, tôi tôi' nồng nhiệt thân quen hết sức của Nguyễn Cao Hùng. Hai Hùng lâu mới gặp nhau, Hùng nọ vồ vập lấy Hùng kia, tíu tít vui mừng như vớ được người yêu trong mộng. Tôi ôm lấy tay Cao Hùng, vỗ vỗ:
--Bonjour! ... Lâu gì, mới gặp nhau đây mà kêu nhớ? Nhớ thì... hôn đi! Hôn một miếng cho đỡ nhớ?
Cao Hùng cười vang, ghé môi gần má tôi, giả vờ hôn 'chụt' một cái thật kêu rồi nheo mắt kêu lên:
--Bồ 'đĩ' quá bồ ơi! Nước hoa thơm lừng!
Tôi cũng kêu:
--Nhờ cậu một tí. Đĩ mà biết cạo râu? Bồ không có râu bao giờ mới biết được Xê-Kỳ nó có 'After Shave 'East Jade' ".
Như thế đấy, hai đứa mỗi lần gặp nhau thường vui đùa, giả vờ hôn hít loạn cả lên. Kỷ niệm hồi ở Lackland. Nước Mỹ là tổ sư đồng tính luyến ái, lại làm ra vẻ ghê sợ mấy chú ‘Mít' nắm tay khoác vai nhau diễu phố. Bọn này bèn diễn cảnh 'homo' trêu ngươi mấy anh bạn đồng minh cho bõ ghét.
Thêm 2 tên bạn cùng khóa đang cười tiến lại, Tưởng ‘khu trục’ lừ đừ như chiếc Skyraider sắp vào cận tiến hạ cánh. Ẩn chìa bắt tay tôi, siết chặt, giọng anh lùn oang oang, bất cần thiên hạ.
--"Hi" Hùng! Ăn gì đi toa? Uống cái chi nói nó đem ra luôn, 'free' mà 'toa’, đừng ngại...
Tôi nắm tay Ẩn, tay kia ôm lấy Cao Hùng và Tưởng “khu trục”:
--Xong. Xong ngay! Quý hoá quá, các bác cho em đớp “chùa”, em mà từ chối thì phụ tấm lòng các bác...
Bốn đứa thân mật dính vào nhau, hể hả. Ẩn nói:
--Đại tá đãi bữa ăn sáng trước khi bọn 'moa' biệt phái Đà Nẵng. Chín giờ mới có C.123 ghé đón... Mẹ, Quảng trị đang sôi sục, tụi 'moa' đi chuyển này cũng thấy hơi 'lạnh cẳng', không biết đi có về được không? Khóa mình trận này mất thêm Phan Quang Tuấn, Trần thế Vinh, buồn ghê hở toa?..
Ẩn nhắc đến Tuấn “khùng”, đến Vinh “Tô-Tô”, khơi dậy trong tôi nỗi ngậm ngùi xúc động râm ran buốt nhói suốt từ hôm được Thụy Hùng báo tin Vinh gãy cánh.
Khóa 65A Phi hành có ba đứa tên Hùng: Thụy Hùng 'inaple' sức khỏe, ra khỏi Không quân, đi Biệt kích Delta một thời gian rồi trở lại Không Quân khi ngành trực thăng bành trướng. Thụy Hùng rất thân và ở chung phòng với Vinh cư xá Bắc Tiến. Tôi nhớ hôm đó là sáng thứ hai 10/ 4. Bởi Vinh rớt hôm chủ nhật 9/4. Tôi xách helmet đi bay, gặp Thụy Hùng, mặt méo xệch, mếu máo:
--Hùng ơi, mày biết tin chưa? Thằng Vinh Tô-Tô nó rớt rồi.
Tôi sửng sốt. Thụy Hùng ngồi lặng trên chiếc vespa nổ máy đôi vai run nhẹ, thẫn thờ hướng về phía cuối đường bay, đầm đìa nước mắt trên gò má. Tôi choáng váng, toàn thân tôi bỗng lạnh, tay tôi run, lời tôi khàn đục như không phải tiếng tôi hỏi bạn:
--Lấy được xác nó về không?
Thụy Hùng cắn môi, đờ đẫn lắc đầu. Tôi phập phồng muốn khóc. Một lát sau, hết nghẹn ngào, tôi mới nói được:
--Tao linh cảm được cái chết của Tô-Tô ngay từ tối hôm thứ bảy. Coi ti-vi thấy thiếu tá Hùng, phi đoàn trưởng 518, ca tụng nó quá. Câu nào cũng Đại úy Trần Thế Vinh chiến đấu xuất sắc, Đại úy Trần Thế Vinh hạ xe tăng Cộng sản nhiều nhất, và đến thứ 2 này Đại úy Vinh sẽ về Saigon lên ti-vi nói chuyện với đồng bào... Tao nghe, vừa khoái thằng Vinh, vừa sờ sợ. Tao hỏi vợ tao, em có nhớ Vinh “Tô-Tô” không. Vợ tao bảo nhớ. Tao nói, đấy đấy, thiếu tá Hùng vừa mới 'bốc thơm' nó đấy, nhưng anh nghi quá em ơi. Phải làm sao kéo nó về sớm chứ bốc nó nổi quá, khó sống. Nó say máu, làm hoài thế nào cũng 'dính'. Phòng không VC đâu có ít? Tao nghĩ vậy thôi, đâu ngờ nó chết thật. Nhảm quá.
Suốt ngày hôm đó đi bay, tôi như đứa trẻ mất hồn. Vinh 'bô trai', dễ thương, bay giỏi, có tư cách, chết đi thật uổng phí. Gặp Huỳnh Hạnh Kim Hồng ở Lai Khê, Hồng nói Xê kể cho nghe về những phút sống cuối anh hùng của Vinh. Mẹ kiếp, phòng không thì đứa nào chẳng sợ. Nhưng bay trên quốc lộ thấy dân chạy loạn lếch thếch mà còn bị tụi nó bắn giết dã man, ông 'xì-neẹc'. Nó bắn mình hả? Thì mình dội bom lên đầu nó, chết bỏ. Thế là Vinh hùng hục đi bay. Thời tiết xấu tàn nhẫn. Trần mây 500 bộ. Bay 'rasemotte' trên mặt biển, tới Cửa Việt rẽ vào Đông Hà. Đại bác trên xe tăng bên này sông bên kia sông 'câu' lẫn nhau. Vinh nó chui dưới hai lằn đạn, ngóc lên, bổ nhào xuống. Nó đánh bom thật trúng. Một 'napalm' là một 'tăng' bốc cháy. Tiếp theo là loạt đại bác, Bô binh tùng thiết VC ngã la liệt. Mỗi 'pass' đánh xong nó chui tọt lên mây tránh phòng không, lại rình rình nhào xuống.
Xê với Định bảo Vinh Tô-Tô đánh đẹp và lì, chưa từng thấy ai bay đẹp và lì như nó trong khi thời tiết xấu chỉ sợ hai phi tuần đụng nhau. Cuối cùng nó rơi tan xác với con tầu trúng đạn phòng không bắn trực xạ ở cao độ thấp.
Buổi chiếu từ mặt trận An Lộc về, tôi mua tờ báoSóng Thần. Thấy ảnhVinh, nụ cười má lúm 'tí-ti đồng tiền', dáng hiên ngang, tôi nhớ Vinh muốn khóc. Nhớ Vinh ngày mới nộp đơn gia nhập Không Quân, rất sữa. Vinh dáng người cao mặc áo sơ mi ca-rô tay ngắn màu vàng, quần ka-ki xám. Khám tổng quát bên Trung Tâm Giám Định Y Khoa, vì huyết áp cao cu cậu chui vào phòng tắm xối nước lạnh cho hạ tension. Ai ngờ trúng gió, lại bị rút gân, cái đầu tự nhiên ngọeo sang một phía, cứng ngắc.
Rốt cục Vinh cũng thành phi công khu trục. Mà lại là một phi công khu trục tuyệt vời nữa. Một lần gặpVinh, tôi hỏi đùa nếu đang bay 'formation', đầu mày ngoẹo như hôm khám sức khỏe thì lảm sao? Vinh nháy mắt:
--Sao mày hay bới móc đời tư của cậu thế? Cậu lại “vật” cho một trận bấy giờ.
Vinh to con và khỏe, tính tình đàng hoàng, rất tốt với bạn bè và có tư cách, có tướng chỉ huy. Ngày ở quân trường, Vinh được cử làm trưởng toán, làm SVSQ cán bộ và là một trong số mấy đứa cao lớn hầu kỳ trong các ngày lễ; để trong các ngày lễ hay diễn hành. Những ngày đó, Vinh dẫn cả khoá đi học, đi ăn, cả chạy phạt v.v... bằng giọng hô đếm bước dõng dạc và bắt giọng cho chúng tôi vừa di chuyển vừa hát những khúc quân hành. Có bao giờ Vinh ngờ được mình là một 'phi công danh tiếng', cái chết trở thành huyền sử cánh chim tự do hào quang sáng rỡ.
Về cái hỗn danh 'Vinh Tô-Tô', tôi muốn nhắc với các bạn khóa 65A nhớ đến xuất xứ của nó. Ấy là cái hỗn danh do Đỗ Phụng Hoàng đặt cho Vinh khi thấy Vinh làm dáng, viết tên mình theo lối Mỹ: Vinh T.T. - Vinh T2 hay VINH T.T. - với 2 dấu chấm sau mỗi chữ T viết tắt như 2 chữ 'o' nhỏ - và Hoàng 'Tô-bia' gọi đầu tiên là "Vinh Tô-Tô"…
Cao Hùng thủ thỉ nói với tôi,
--Vinh ‘Tô-Tô' chết uổng, hở bồ? Nó bay 'nghề' nhất Phi đoàn, tư cách không ai hơn. Bữa nào rảnh bồ nên viết về nó một bài.
Tôi gật đầu cười, nói tôi cũng định hôm nào rảnh viết cho Vinh một bài tưởng niệm.Tôi là bạn thân của Vinh, thật tình hãnh diện vì Vinh đã chết anh hùng, thật tình thương tiếc bạn tôi bất ngờ gãy cánh. Vinh bây giờ đã là người của cả nước, là thần tượng hào quang chói lói. Việc làm và cái chết của Vinh ngời ngợi hai tiếng 'anh hùng' không cần đến ai đánh bóng. Không cần phải dựng đứng lên rằng "Vinh mãn khóa hoa tiêu quan sát tại Nha Trang, được du học khóa T28 tại Hoa Kỳ và đậu thủ khoa…" mơi xứng đáng với công nghiệp Trần thế Vinh dâng cho Tổ quốc. Đâu cần phải đậu thủ khoa, phải học Cessna mới thành anh hùng hạ 21 xe tăng địch.
Tôi muốn Trần thế Vinh là Trần thế Vinh, nguyên vẹn là 'Vinh Tô-Tô' thân mến của chúng tôi đã bay cao, không bao giờ bị hạ cánh. Cao Hùng nhắc đi nhắc lại hoài, bắt tôi phải viết bài tưởng niệm Trần thế Vinh trước khi Cao Hùng chia tay tôi, lên đường đi biệt phái.
Tôi vui với sự nồng nhiệt thân thiết của Cao Hùng. Đồng thời tôi bỗng rờn rợn âu lo cho chuyến biệt phái hành quân ở Vùng 1 của bọn Hùng. Người vừa nằm xuống đã có người khác lên thay nơi tuyến đầu máu lửa. Tôi quyến luyến không muốn rời gương mặt trắng hồng như con gái của Cao Hùng. 'Baby’ Hùng môi hồng răng ngọc, má lúm đồng tiền, tóc mềm lả lơi nghệ sĩ. Tôi vẫn gọi Cao Hùng là ‘Tây con’ hay ‘Babylac’. Hùng nhà giàu, thế lực, học trường Tây, cốt cách phong lưu quý phái. Hồi đó tôi cứ tiếc cho Hùng sao vào Không Quân, bỏ dở việc học. Cao Hùng có nỗi khổ tâm riêng về tình cảm gia đình, tôi loáng thoáng biết nhưng không bao giờ hỏi han Hùng và càng thương quý bạn.
Những ngày Cao Hùng đi biệt phái, tôi vẩn vơ lo lắng, hồi hộp chờ tin bạn. Chưa bao giờ tôi lại nghĩ ngợi đến nỗi an nguy của Cao Hùng nhiều như vậy. Nhớ hôm từ giã, Hùng và Ẩn dặn tôi bay cẩn thận, chúc tôi ‘may mắn'. Nhớ đôi má bầu bĩnh có lúm đồng tiền sâu hoắm của Hùng nhìn gần đầy những tàn nhang và lông măng phơi phới. Nó thật dễ thương. Ngày chúng tôi lên lon, Hùng lấy dao găm cắt bỏ cặp mai trung úy trên vai áo bay của tôi, bảo mua tặng tôi một cặp lon đại úy. Bồ đeo lon trung úy gần bốn năm rồi còn gì? Bây giờ mang lon đại úy cho 'gồ ghề', đàn em nó khó rỡn mặt. Mấy ngày sau Cao Hùng nhờ ban văn thư đánh máy và thị thực mười mấy bản sao quyết định thăng đại úy thực thụ, đem qua Phi đoàn cho tôi, đùa:
--Đeo lon mới, Quân cảnh hỏi, bồ lấy cái này dán vào mắt nó cho đui luôn.
Cao Hùng biệt phái lần đó về vô sự. Tôi gặp Cao Hùng lần cưới cùng là hôm Hùng lái xe Floride mặc đồ bay đen, thấy tôi, cười vẫy vẫy. Tôi cũng giơ tay ngoắc lại, rồi vội công việc, đi luôn.
Hôm 20 tháng 5, tôi bay quần quần phía đông Tân Khai chờ bốn phi tuần khu trục săn hạ hai chiếc xe tăng Vi-Xi trốn lẩn dưới gầm cầu xe lửa và khóa họng ổ phòng không, dọn đường cho tôi dẫn hợp đoàn vào đáp Tân Khai. Tôi bay trên 5000 bộ, theo dõi từng chiếc Skyraider nhanh nhẹn luân phiên đâm bổ xuống mục tiêu, say sưa hào hứng. Bỗng một chiếc AD6 vừa thả xong hai trái Napalm, vút ngược lên cao. Tôi thấy một tia khói cuộn lên từ một bụi cây bên bờ con suối cạn. Chiếc phi cơ bỗng phát nổ. Ngay trước mắt tôi, thấp hơn cao độ phi cơ tôi một chút. Và thật rõ ràng kinh khủng, tôi thấy một khối lửa chói lòa rực rỡ như quả pháo bông vun vút rơi thẳng băng xuống đất.
Tôi trợn tròn đôi mắt. Miệng há hốc không kêu được một tiếng nào. Khối lửa bắn tung tóe và đang cháy hiu hiu trên mặt ruộng để lại không gian một sợi khói đen theo đường rơi của chiếc phi cơ xấu số. Tôi không thấy một cánh dù bung nở. Như là hoa mắt, như ảo tượng trong mơ. Tôi đau thắt tim khi nhìn thấy ba chiếc khu trục cơ còn lại gầm rú điên cuồng bay lượn trên vùng phi cơ rớt. Tôi gọi máy báo Panther: 17 giờ 25- SA.7 CS bắn rơi một phi tuần khu trục tại Tân Khai. Tọa độ XT... không thấy hoa tiêu nhẩy dù... Nghĩ thế nào sao, tôi lại hỏi thêm:
--Panther cho 'Charlie One' biết ai bay chiếc Skyraider vừa bị bắn rớt?
Một giọng đầy kích động trong máy VHF, như mũi dao nhọn hoắt xói giữa tim tôi:
--Đại úy Nguyễn Cao Hùng, Phi đoàn 518!...
Đào Vũ Anh Hùng
(tr.112- 121, Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến, nxb Vàng Son, Saigon 1974)
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 40
~~~
thủ bút, chữ ký và chân dung nhà văn Nguyễn Mạnh Côn
(trang 1, TẬP THƠ TRUYỆN KHÔNG QUÂN THỜI CHIẾN)
Thân mến gởi Người có Bộ Râu
"Thật ra, nhiều người đã kể chuyện tương tự. Ít ra ở Việtnam, cũng có Khái Hưng, viết về người tài xế xe lửa phải từ biệt vợ hấp hối; để cầm máy chuyến xe lửa chở quan Toàn quyền Đông dương. Dọc đường, ông ta thấy có bóng người thấp thoáng trước mặt; ra hiệu cho tàu ngừng lại. Ông ta không dám làm theo, nhưng đến lúc nghe tiếng gọi cấp bách; thì, trong cơn mê hoảng; ông ta hết sức phanh tàu cho dừng lại. Mọi người đổ xô đến, thấy cách nơi tàu ngừng một quãng ngắn; có một con sông nước chảy xiết, còn cẩu đã gãy. Ông ta nhìn đồng hồ. Khi về, được biết bà vợ đã qua đời đúng vào đêm, giờ ông chồng thoát nạn."
Chuyện được Khái Hưng phóng tác, từ một câu chuyện ngoại quốc -- một người đứng tuổi nói tiếp. Cách đây mấy chục năm; địa vị Việtnam còn khiêm tốn quá đối với quốc tế, nên không ai thấy cần phải ghi rõ xuất xứ những truyện ngắn được phỏng dịch, hay phóng tác.
"Câu chuyện của Khái Hưng có một phần khiến cho tôi chú ý -- một người khác nói -- người tài xế thấy con bướm mắc kẹt trên mắt kính ngọn đèn ở đầu máy xe lửa. 'Bóng người trong sương mù' là nhan đề của truyện; như vậy, rõ rệt ý tác giả có ý muốn gây nên, trong độc giả; một vài ý niệm bâng khuâng liên hệ từ cánh bướm trước ngọn đèn; ánh sáng chiếu thành bóng trắng trong đêm, rồi từ bóng trắng đến người vợ bạc mệnh.
Câu hỏi không được đặt thành lới; mà xao xuyến trong lòng ta, phải chăng là người vợ chết, thì linh hồn bà dõi theo đường đi, để cứu ông ta kịp lúc. Nếu bóng trắng trong sương thật sự là con bướm -- theo lẽ, thì thân hình nó ngăn trở ánh sáng của ngọn đèn, bóng chiếu trên màn sương phải là bóng đen -- thì linh hồn bà vợ đã nhập vào con bướm một phần -- còn một phần quanh quất bên ông tài xế, đã tạo thành tiếng gọi 'dừng lại'; chỉ một mình ông ta nghe thấy --có nhà văn nước ta diễn tả như một tiếng im lặng, một thứ tiếng im lặng; một thứ tiếng của quá khứ; hay, được giao truyền lại theo phương pháp cách cảm.
"Phải, người mang bộ tóc pla-tin nói: 'vấn đề được đặt ra, gian tiếp hay trực tiếp; là vấn đề linh hồn. Trong truyện ngắn của Khái Hưng: con bướm đã chết -- và, bóng người trong sương cũng quá mơ hồ, người đọc xong chỉ có thể cảm xúc mang mang, chứ không có y nghĩ nào rõ rệt; có lẽ, vì chính tác giả cũng không có chủ đích trình bày một quan điểm rõ rệt. Còn câu chuyện, tôi sắp kể cho các anh nghe; có một đặc tính là minh bạch hơn nhiều; cũng vì thế phi lý hơn nhiều".
Một chàng phi công trẻ bất thần nghe được mấy lời nói sau cùng; anh ta đến gần, nói:
"Còn gì phi lý hơn những chuyện xảy ra hàng ngày chung quanh chúng ta? Thưa thiếu tướng, thằng Hoạch nó chết 7 giờ 30 tối hôm nay, em vừa được báo tin qua điện thoại. Đại úy Hoạch, anh chàng phi công quay ra nói với những người khác, với ngót 2 trăm phi xuất trên mặt trận giới tuyến; 3 lần bị trúng đạn đều nhẹ, mấy lần bị lủng cánh; vỡ đuôi; đều đem được tàu về bãi đáp. Thế mà, nghe tin vợ đẻ con trai; mừng quá, chạy gấp từ lầu 3 xuống; chân đạp vào một quả nho rơi mà ngã chết... thưa các anh, cuộc đời nó phi lý như vậy đó."
"Đại úy Hoạch chết rồi! -- người có mái tóc đẹp ngậm ngùi -- linh hồn nó có nhớ đường về thăm vợ con; hay, về đây uống chút rượu này với chúng ta -- ly rượu từ từ ngã; dòng nước vàng chảy lênh láng xuống nền nhà -- và, nghe kể chuyện về bạn thân cùa nó' thằng Phúc, hỗn danh Phúc Hên."
Trung tá Trần Lương Phúc, còn gọi Phúc Hên, hôm nay đã ra khỏi quân chủng. Đời người phi công, đến tuổi nào đó, sẽ mất dần tính chất bén nhạy của phản ứng giác quan; đồng thời, cũng kém dần về sức chịu đựng dẻo dai của thân thể. Đến lúc nào đó, hay tuổi nào đó; một phi công chiến đấu sẽ không được lái tàu chiến đấu nữa. Đời người phi công đến đây là chết mất quá một nửa. Anh ta sẽ tìm cách xin biệt phái sang lái những chiếc tàu hạng ì-ạch, 3, 4 trăm/ cây số giờ; hoặc, lái những máy bay chở khách hạng trung, không vượt quá nghìn cây số.
Trung tá Phúc khi phải chọn lựa, đã không chọn cả 2 biện pháp. Ra khỏi hàng ngũ, anh tìm đến trú ngụ tại một thị trấn nằm bên bờ biển. Mỗi buổi sáng mua nhiều cá thả xuống một cái hồ nước nhỏ; và, mua thêm nhiều thứ ngô, đậu; làm thức ăn cho một giống chim trắng toát có vết đen nâu, có đôi cánh rất rộng; thường bay chập chờn, rỡn chơi trên những làn sóng bạc đầu, vào những ngày biển động. Ở nhiều nơi, người ta gọi loài chim đó là những con mố.
Mấy người thủy thủ Việt đi trên tàu xuyên đại dương cũng gọi chúng như vậy.
Trung tá Phúc có người em trai, kém 1 tuổi; cũng tên Phúc, Trần Nhân Phúc; nhưng không phải là Phúc Hên, vì hiện nay gọi là cố thiếu tá Phúc. Trong quân chủng, thiếu tá Phúc là Phúc Em. Em ngã tàu vào một buổi chiều mưa. Ba tháng sau, Phúc Hên không còn khả năng lái tàu chiến đấu nữa; nhưng anh ta vẫn còn trong hàng ngũ được mấy năm, làm phi công vận tải. Rồi sau đó, anh ta xin giải ngũ; ra ở ngoài bờ biển, ngày ngày nuôi những con mố đó; thì, có một con là em anh ta. Hay nói cho đúng; thì, có một con mố nào đó; ở một miền duyên hải nào đó của nước Việt Nam, nơi trú ngụ của linh hồn Phúc Em.
Câu chuyện thực buồn nhưng không đến nỗi đau khổ. Hai anh em Phúc cùng lớn lên trong một gia đình đoàn tụ, nên rất thương yêu nhau. Phúc Em có phần thông minh hơn; nhưng Phúc Em khỏe mạnh, to lớn hơn.
Phúc Em học giỏi, vượt theo kịp anh; rồi vượt luôn trong bảng sắp hạng tam cá nguyệt. Nhưng Phúc Hên không ghen với em, vì anh ta ham chơi hơn ham học -- chơi, ở đây chơi thể thao, bóng đá, đánh quần vợt. Đấu võ, Phúc Hên có nhiều dịp bênh em trong những cuộc tỉ thí; nguyên nhân không mấy khi là ngoài mấy cô bạn gái xinh đẹp. Nhờ thế, anh ta không mang mặc cảm đối với cậu học giỏi; trong khi Phúc Em đã không dám coi thường anh -- ngược lại, còn biết ơn và kính phục Phúc Hên, như một tay hiệp sĩ giang hồ.
Đến cuối ban trung học, Phúc Hên thi trượt phần 2 bằng tú tài. Anh không ngần ngại tình nguyện vào không quân. Phúc Em đậu cao, lên đại học được hơn 1 năm; rồi cũng tình nguyện vào không quân, tình nguyện theo học lớp hoa tiêu. Người ta có thể tin rằng thái độ sống ngang tàng, những cử chỉ hào hoa, phong nhã và, có lẽ cả bộ quân phục của Phúc Hên đã ảnh hưởng đến em anh ta không ít. Người tuổi trẻ làm bạn với nhân vật trong sách vở nhiều hơn với người đời, chắc hẳn đã qua người anh đã tạo thành một mẫu mực lý tưởng cho cuộc sống.
Phúc Em vào không quân, tốt nghiệp sĩ quan hoa tiêu, rồi nài nỉ xin về cùng đơn vị với anh. Vả từ bấy giờ, anh em không rời nhau lấy một giờ. Khi xuất trận thì cùng một phi tuần, khi dạo phố cũng cặp đôi... Thậm chí khi gặp Mến, cô sinh viên không bao giờ đánh phấn của đại học Y, Dược; thì, anh em không ai bảo nhau, lại cùng mê nàng một lượt.
Mến có lần tâm sự với bạn thân:
"Thật khổ cho tao: chọn một, thì tao biết chắc sẽ có một gia đình êm ấm; với người chồng thi gì cũng đậu, làm gì cũng xứng đáng hết. Nhưng tao còn trẻ, việc lấy chồng còn xa xôi; mà, ngay trước mắt lại có một người yêu lý tưởng, một người yêu quàng tay dạo phố; tao biết chắc không thiếu gì có đứa ghen tức, thèm thuồng. Băn khoăn quá, có lần tao đem đồng tiền xu mang hình cụ Diệm để xin 'âm dương' -- ngửa chọn anh, xấp chọn em; sau lại sợ, không dám..."
"Thì mày chỉ việc nhận lời tên nào nói trước" -- lời đứa bạn thân.
"Nhưng, chưa có tên nào nói cà".
Đúng như thế, Phúc Hên không nói, Phúc Em không nói. Thâm tâm, anh nào cũng yên chí Mến ngả về mình nhiều hơn. Cả 2 anh em đếu không nói ra, hình như họ quyết định nhường cho nhau.
Một người bạn là cấp trên có dịp được nghe Phúc Em phân trần:
"Những kẻ đọc sách như tôi, nước ta không thiếu; mà thiếu những người như anh tôi. Đối với tôi, may có điều kiện học thêm, cũng đậu được cái bằng tiến sĩ, kỹ sư; rồi về nước, gặp hoàn cảnh thì tôi cũng có thể làm đến tổng giám đốc một xí nghiệp nào đó. Chỉ thế thôi, trừ phi tôi lao vào chính trị, cũng lừa lọc, gian dối như ai; hẳn là cũng có thể có một chân trong chính phủ... Còn anh tôi thì khác, đầu óc thực tế hơn, có tài tổ chức, lại chỉ huy vững vàng. Anh có đủ khả năng tự bảo vệ, đủ khả năng tấn công bất cứ ở đâu, lúc nào... nhất là trong công cuộc cải tạo xã hội; chúng ta cần đến hạng người có khả năng lôi cuốn nhiều người khác; hạng người tin tưởng vừa phải vào công lý; mà, cũng tin tưởng vừa phải vào sự thật."
Rồi không biết liên tưởng thế nào, Phúc Em nói tiếp:
"Chính anh tôi mới đáng sống; cuộc chiến còn kéo dài, chưa biết ai sẽ thoát được. Nhưng, nếu tôi có quyền gì, tôi sẽ nhường sự sống cho anh ấy. Anh ấy đáng được hưởng hạnh phúc."
Câu nói cuối cùng kỳ lạ, có thể là lời nói gở; Phúc Em gặp nạn sau đó ít bữa.
***
Vảo một buổi chiều vần vũ, trần mây thấp, gió mạnh; có một phi tuấn A-1 trên đường về; lại chỉ có 2 chiếc tàu của anh em Phúc. Tàu tránh mây đen phải bay thấp, giữ bình phi dưới 3000 bộ. Phúc Hên gọi em:
"Lốc Đen 2, đây 1, trả lời".
"1, đây 2; nghe anh 5/5".
Tiếng cười ngắn trên làn sóng, đoạn:
"Phúc coi chừng, chúng mình đang bay trên đất địch".
"Lốc Đen 1 yên chí lớn đi... mấy thằng tay mơ không dám để lộ mục tiêu đâu!"
"Nghe nói có SA7 tầm nhiệt phóng tay; và 57 ly phòng không đấy. Đừng khinh địch, Phúc."
Phúc Em cười thành một chuỗi dài:
"Phải rồi, ông bao giờ cũng thế, chỉ lo cho tôi. Ông quên rằng địch chỉ lo nhắm bắn thằng đấu đàn".
"Nhưng tao là Phúc Hên, tao nhiều may mắn, mày quên sao?".
Phúc Hên bỗng khựng lại. Phi tuần có 2 anh em; mình hên thì ai xui đây? Một chút gì tê tái mới chớm lên trong lòng, đã bị đè chặt xuống; Phúc gọi em bảo sang tần số của phi tuần:
"À này Phúc, tối nay về, đến chơi đằng Mến nhé".
"Nên lắm, nhưng ông đi một mình."
“Còn mày, sao không đi?"
"Tôi hơi mệt".
"Láo. Mày phải đến, mày không đến, nó buồn."
"Sức mấy mà buồn!"
"Sao lại không! Mày không thấy ư, hễ có mày, Mến tới ngồi sát bên mày suốt buổi sao?"
"Phải rồi, ngồi suốt buổi để tập đàn mà thôi. Còn ông, cứ ra ngoài đường, ai bám lấy tay ông kè kè đấy?"
"Thì... thì... nhưng, tao là anh, tao có nhiều kinh nghiệm hơn mày. Tao muốn mày..."
Một tiếng cười dở dang, bỗng tắt lịm. Một lóe sáng bên cánh phải. Một cách rất máy móc, Phúc Hên duỗi chân phải, co chân trái, nghiêng một nửa thân tàu. Và liếc thật nhanh, thấy tàu Phúc Em chao động.
"Hello... Phúc, Phúc, có sao kh... ô... ng?"
"Có".
Tiếng cười đứt đoạn được tiếp nối. Phúc Hên mở thắng gió, nghiêng tàu trở lại. tàu của Phúc Em chao động mạnh, làn khói đen mù mịt phun về phía sau. Nơi chân, khói lửa vàng liếm chung quanh cốc-pít.
"Phúc, Phúc... đừng cười, tàu nổ đến nơi rồi, bấm dù mau đi".
"Thong thả..." Tiếng cười ngắt quãng, nhưng vẫn là tiếng cười. Phúc Hên từ phiá dưới nhìn lên, hình như Phúc Em quay đầu lại tìm mình".
"Phúc! nhảy ngay đi!... Anh bắn cô-vơ, đợi trực thăng đến bốc đi. Hello! Võng Mây, nghe thấy không? Trả lời?"
"Đâ, Võng Mây. Tôi nghe anh 5/5, mọi chuẩn bị đều sẵn sàng. Hãy cho tôi tọa độ, tôi cho..."
Tiếng Phúc Em cắt ngang, bình tĩnh:
"Lốc Đen 2 nói với Võng Mây... cảm ơn bạn, quá muộn rồi. Chúng nó bắn tôi hơi đau. Pháo bắn ghế không nổ... Tôi chỉ còn 1 tay..."
Đoạn, bất thình lình:
"Anh! Anh Phúc! Địch ở 2 giờ, coi chừng... để em xuống với chúng nó."
Tàu của Phúc Em bốc cháy phừng phừng, bắt đầu nghiêng cánh phải. Từ một khoảng rừng thưa, màu xanh tươi giữa biển cậy xanh đen, có những đốm lửa bay lên, cách quãng nhau khá xa. Tàu của Phúc Hên rung rinh, vì những tiếng nổ gần. Những đám mây nhỏ nở hoa đen trắng trước cánh quạt, bên cánh đằng sau. Đúng rồi, chúng nó phục 57 ly kiểu mới của Nga ở đây, trước sau gì cũng có anh em bị.
Phúc Em chắc hẳn cũng biết như vậy... Nó đang lao xuống... cầu Trời cho tàu đừng nổ giữa đường. Át hẳn những tiếng lục đục, tiếng của Phúc Em nhanh và nhẹ, như vui tươi:
"Đúng rồi anh ơi, đại bác 57 ly kiểu mới, nòng cao hơn ngọn cây... Hai thằng chập một, mấy tên áo vàng chạy như vịt. 300 bộ. Anh Phúc ơi, cho em gửi lời chào chị Mến... chị Mến..."
Lửa đỏ tóe lên, khói mù mịt. Một người anh ngồi lặng trong tàu, chiếc tàu lượn quanh cột khói. Sáu bề im lặng, rừng già bạt ngàn. Khói tan dần. Nhìn xuống dưới, Phúc Hên chỉ thấy giữa một vòm xám đen, một khoảng đất trống ngổn ngang những mảnh vụn. Đứa em yêu quí, gần gũi đã đi rồi... Phúc Hên không nghĩ gì, không cảm thấy gì, cứ bay quanh vòng xám đen mãi cho đến khi sương xuống, như một tấm màn tang sô gai bao la phủ kín biển xanh mênh mông.
Trong khi đó, còn văng vẳng bên tai chàng phi công thui thủi một mình, tìm về bãi đáp.
"Hello! Lốc Đen 1. Phượng Hoàng có mặt... Đây Phượng Hoàng... chia buồn với anh. Mặt Trời biết, chia buồn với anh..."
***
Tất cả anh em đều biết, dưới bề ngoài vững chắc vui tươi; Phúc Hên là người giàu tình cảm. Phúc Hên thương em vô cùng, trong tình thương có pha lẫn một niềm quí trọng rõ rệt. Cứ mỗi khi 2 anh em cãi lộn nhau về một điều gì, Phúc bao giờ cũng chịu thua. Thua là thua, trong ánh mắt của Phúc, thấy dày ngộp vui thích, hãnh diện. Phúc Em quả là con người rất xuất sắc, rất đặc biệt. Nhưng con người ấy đã đi rồi.
Phúc Hên không ở lại đơn vị được vì anh ân hận không nguôi, chính bởi anh nêu gương, khiến cho Phúc Em vào không quân. Đủ tuổi học, thua điều kiện 'chớp' học bổng đi ngoại quốc thì nó làm sao mà chết được... Càng nghĩ, Phúc Hên càng thấy trách nhiệm quả là lớn lao, đâm ra oán giận luôn những con tàu săn địch. Anh không muốn ngồi trong phòng lái, không muốn đến gần, không nghe nói. Chuyến bay nào cũng trở thành miễn cưỡng, tuy anh không muốn rời bỏ nghề bay. Chỉ còn cách thuyên chuyển Phúc Hên sang một đơn vị vận tải nặng.
Với chức vụ hiện tại, Phúc Hên rất ít khi phải đích thân lái tàu, trừ trường hợp khẩn cấp là thiếu hoa tiêu nhiều quá. Như đã xảy ra, nhân vụ lụt năm xưa. Bao nhiêu máy bay có thể cất cánh được đều bị bộ tổng tham mưu trưng tập để chở thóc, gạo, cơm sấy quần áo, chăn màn ra miền Trung. Cho nên đến lượt Phúc Hên phải lái chiếc tàu phản lực Boeing727 chở một phái đoàn đi ngoại quốc 24 giờ, rồi trở về ngay.
Phúc Hên lãnh đạm lên tàu, chuyến đi không có gì trục trặc. Chuyến về, có mấy cô tiếp viên nữ bên dân sự đi nhờ, và được trưởng phái đoàn thỏa thuận. Chiếc máy bay Boeing 727 tới phi trường Đài Bắc khỏang xế chiều, rồi qua Hong Kong đậu lại khoảng 10 tiếng đồng hồ. Lên đường trở lại vào nửa đêm, Phúc Hên nói với trưởng phái đoàn:
"Gần sáng tàu về đến Saigon."
"Sao lâu quá thế."
"Vì bay trên lộ trình VIP bảo đảm an ninh 100% cho hành khách. Chúng tôi men xa ngoài mặt biển, ra khỏi tầm của bất cứ loại vũ khí nào của địch, dù là thật hoặc phỏng đoán."
"Thế các máy bay bay đường quốc nội, thì sao?"
"Cũng thế, từ Đà Nẵng hay Nha Trang thì bay thẳng về phía Đông 50 cây số, rồi mới quay mũi xuống phía Nam."
"Còn những tàu khác, ví dụ như tàu tiếp tế ra ngoài Trung, nếu phải đi vòng chẳng hoá ra phiền phức, tốn phí lắm sao?"
"Thưa, không phải vậy, tàu thường đã có một hành lang an toàn được định sẵn. An toàn tương đối thôi và cũng thay đổi luôn, tùy theo hoạt động địch quân ở dưới đất."
"Người ta đi được, mình cũng đi được. Nếu tôi không nhầm thì loại tàu này có thể lên cao 35 ngàn bộ; không lẽ bay trên không phận của mình cũng sợ hỏa tiễn SAM sao? Yêu cầu trung tá cho tàu đi theo hành lang đã đượic xác định."
"Thưa, tôi không được quyền, trừ phi cụ ra lệnh. Tuy nhiên, tôi sẽ hỏi ý kiến Saigon."
"Vâng, tôi ra lệnh."
Saigon đồng ý, Phúc Hên cũng thấy vui vui. Ai bảo 'mấy ông già làm lớn thì đều nhát như thỏ đế'. Mấy người trẻ họp nhau vào bàn tán trong căn phòng nơi cuối tàu. Họ tự giới thiệu:
"Tôi là Loan."
"Tôi, Thu Thủy".
"Quỳnh Châu quận chúa", một giọng vui cười tiếp theo.
"Quận chúa?" tôi nhớ ở đâu đó, có một cửa tiệm bán toàn hàng đắt tiền mang tên Quận chúa. “Cô Quỳnh, có phải..."
"Không phải đâu! Ba Quỳnh là công chức, mẹ Quỳnh ở nhà săn sóc các em."
"Đúng thế đấy -- giọng vui cười giải thích -- Quỳnh Quận chúa, bởi vì... đó là một quận chúa."
"Cô Quỳnh, người Huế, sao?"
"Sai rồi! nghe một lời nói trong suốt pha lê, cũng đủ biết cô Quỳnh ra đời trên bờ sông Nhị. Các cô để tôi đoán về cô Quỳnh này nhé... tôi vừa thấy cô Quỳnh đi từ ngoài vào. Thân hình này, dáng đi ấy thật quí phái!... Có phải vì thế, cô Quỳnh được 'phong làm quận chúa', phải không?"
"Đúng, đúng vậy đấy!"
"Thế còn anh, tại sao họ người gọi anh là Phúc Hên? ộ anh nhiều may mắn, lắm sao?"
"Vâng, tôi có nhiều may mắn thật đấy, quả là nhiều ..."
"Nói dại, có lần nào anh gặp nạn suýt 'toi mạng' không?"
Câu hỏi giản dị, bình thường nhưng khiến làm cho Phúc Hên đứng dậy khẽ gật đầu, rồi lầm lũi mở cửa phòng, đi lên phái trước. Tĩnh Thúy, nữ tiếp viên chính tàu này, cô không muốn để buồn cho mấy người bạn mới, trả lời thay cho Phúc:
"Sự thật là 10 năm lái tàu chiến đấu, hơn 2 năm lái tàu vận tải; trung tá Phúc chưa gặp một khó khăn nào đáng được gọi là nguy hiểm cả. Nhưng chị Quỳnh hỏi, làm anh ấy nhớ lại một chuyện buồn. Ấy là người em anh ấy, phi công chiến đấu, cấp bậc hoa tiêu thiếu tá, nickname Phúc Em. Hai người cùng bay một phi tuần, địch quân ở dưới bắn lên thì tàu thiếu tá Phúc bị trúng đạn. Có lẽ người anh tưởng mình bị cướp hết may mắn, nên người em mới tử nạn."
Tĩnh Thúy nói về Phúc Hên có phần đúng. Hai hàng hoa tiêu cùng bay; mà, may mắn đến thật cho nhiều người; rủi ro đến cho ai đây? Trung tá Phúc thừa hiểu sự sống chết con người, dù là phi công, không thể chỉ do may rủi mà thôi. Một thợ máy giỏi, tận tụy tất nhiên thận trọng từ đích thân anh ta không bao giờ có thể lơ là; thì mới là yếu tố quyết định về mạng sống cho một phi công bay trên phu vụ -- thật ra thì cũng còn điều kiện khác nữa.
Ví dụ như Phúc Em, sao nó luôn nói đến cái chết? Đành rằng thích học triết, không phải vì thế mà mỗi khi gặp bạn vừa ý là cùng nhau thức sáng đêm bàn chuyện linh hồn. Mà, cũng phải nhân là 'nó nói thật hay, làm người nghe vui thích theo dõi những ý tưởng thật khô khốc'.
Có lần Phúc Em đi chơi về, dựng người anh đang ngủ phải bật dậy, để nghe:
"Tôi vừa đến ông Hậu về. Ông ơi, ông hãy nghe tôi hỏi đây, nhớ trả lời cho kỹ: 'nếu tự nhiên ta mất luôn cả tai, mắt, mũi, miệng và cả tay chân thì sao nhỉ?'-- ông trả lời xem sao?"
"Ô hay! Thì còn lại một cục thịt chứ sao?"
"Nhưng, nếu mới ra đời đã vậy; thì sao đây. Không nghe, không biết có tiếng nói, không nhìn, không biết có hình ành, mầu sắc; cũng không thể sờ mó, không thể xê dịch; hẳn là không thể biết có ngoại cảnh. Như vậy thì 'liệu cục thịt có linh hồn không'."
"Có chứ, ít ra cũng biết nóng lạnh, khô, ướt. Nếu cần ăn thì biết no, đói; nếu cần ánh sáng và không khí; thì vào chỗ tối tăm, ngột ngạt, nó sẽ chết dần. Trước khi chết, chắc chắn nó quằn quại, đau đớn."
"Đúng! Và, đó là một thứ linh hồn, một phần của linh hồn. Bây giờ, tôi hỏi tiếp 'nếu người ta bỏ một đứa bé ra đời ở một nơi vắng vẻ; không cho nó thấy bóng một đồng loại nào. Thì, nó sẽ ra sao đây?"
"Thì... thì nó cũng như một con vật: không biết nói, không biết viết, không có kinh nghiệm gì về loài người, qua mấy nghìn năm; cũng không biết tránh mưa nắng, không biết cày cấy."
"Nếu có vợ, cũng y như nó, thì sao đây. Liệu có con? Nó có thương yêu không?"
"Chắc là không rồi. Nó không thể có ý niệm gì về vợ, con. Trong khi đó thì thương con, yêu vợ; là điều những đứa trẻ mới lớn được dạy dỗ, được đối xử; thấy người và việc quanh mình; và, đọc trong sách vở... Nó cũng không nhớ được lâu; vi, muốn nhớ phải biết gọi bằng tên; phải biết chắp nối được nhiều hình ảnh có tên, thành một chuỗi dài sự kiện có ý nghĩ, có tác dụng. Là quá khứ. Như vậy, giá nó đang ở với vợ con; rồi bị đưa đi chỗ khác, gặp người đàn bà và đứa trẻ khác; nó có thể nhận ra ngay là vợ con nó..."
"Trừ phi nó đánh hơi mà biết; có phải vậy không? Nghĩa là: nó lại có thêm một phần linh hồn. Biết kiếm ăn, biết giao hợp để sinh sản... biết chạy trước lửa cháy, biết sống thành đàn; còn biết tranh nhau chức 'chúa tể' nữa. Đó là một thứ linh hồn hoàn toàn được cấu tạo thành, bởi những tin tức, do giác quan cung cấp. Xong rồi! Bây giờ tôi hỏi ông... xin ông nhắm mắt lại rồi hãy trả lời -- nếu bất thình lình thân thể ông tàn rữa đi hết mà, ông vẫn còn sống, ông còn thấy được những gì?"
"Còn những kỷ niệm, kỷ niệm về quá khứ, về người thân, về công việc..."
"Nhưng nếu không còn khối óc, không còn tai, mắt; ông sẽ không giữ lâu được kỷ niệm về hình ảnh, về tiếng động, ông sẽ quên hết nhiều thứ một cách nhanh chóng..."
"Rất có thể vậy. Dầu sao tao cung còn giữ được kỷ niệm về những gì hoàn toàn trừu tượng. Trước hết, kỷ niệm về tình cảm; dù yêu, dù ghét. Thứ 2, kỷ niệm về những điều mình hiểu biết. Thứ 3: khả năng nhận thức và, động cơ của sự nhìn, nghe, ngửi."
"Đúng! Đó là một phần nữa của linh hồn. Phần cao nhất, phần của riêng loài người. Khi người ta chết đi, phần linh hồn rời thể xác, bay lên cao, tìm đầu thai vào những đứa trẻ mới ra đời. Hoặc giả vào các loại muông thú, làm cho chúng nó tinh khôn hẳn lên. Nhưng nếu không có bàn tay dụng cụ, không có sách vở, cũng đành chịu thôi."
Phúc Em ngưng lại, đoạn sau có một phút suy nghĩ, bỗng mơ màng, nói tiếp:
"Loài chim là loài vật thông minh nhất, hơn cả loài người -- ông Hậu bảo thế -- nếu em chết, em sẽ đầu thai vào một con chim; một con chim thật thông minh, thật đẹp."
Một kết luận bất ngờ làm cho Phúc Hên vừa ngạc nhiên, vừa tức bực. Anh gắt lên:
"Mày ngu như con bò. Phần linh hồn sau cùng làm gì có mắt; để cho mày chọn con chim kia chứ?"
"A ha! anh nói phải, chắc hẳn lúc bấy giờ linh hồn ấy mất mọi giác quan cụ; tất phải có một khả năng nào mới, để nhận biết chung quanh một cách khác hẳn người sống. Phải có thế, mới đầu thai được chứ!"
Rồi thêm một câu bất ngờ hơn cả:
"Giá mình làm thế nào thử được, nhỉ? Anh Phúc, anh có nhớ các cụ ngày trước hay nói đùa: 'hễ chết thì về cù chân nhau'. Em chết, em sẽ về cù chân anh."
Phúc Hên chưa muốn làm công việc nào rõ rệt. Anh vẫn ở trong hàng ngũ, vẫn ngồi trong chiếc ghế lái êm ấm này.
Đêm về sáng mùa mưa, ngoài trời đã có sa mù thoang thoảng. Phòng hoa tiêu hoàn toàn im lặng, không nghe tiếng gió, cũng không nghe tiếng máy. Phúc Hên rất bình tĩnh quay qua nhìn hoa tiêu phụ đang ngủ say, miệng ú ớ gọi tên một người con gái. Anh giảm bớt ánh sáng từ ngọn đèn trên trần buông xuống, một tay móc bật lửa. Ngọn lửa tóe sáng, anh nghiêng nghiêng cúi đầu.
Nhưng... quái lạ! Có một cái gì như bóng trắng thấp thoáng. Phúc Hên tưởng mình bị hoa mắt -- khi nhìn lên, quả thật phía trước tàu có những vệt loang loáng như cánh chim vỗ lẫn vào sương sa. Phúc Hên nhắm mắt, đếm đến 10; mở mắt ra, vẫn thấy in như cũ. Và, thấy càng thêm rõ.
Một con chim trắng vỗ đôi cánh rộng mênh mang lên xuống thật nhịp nhàng. Chim gì? Sao có thể vô lý như thế? Con chim cất từ không trung lao xuống; đạt được vận tốc 400/cây số giờ; chỉ cần trong khoảnh khắc mà thôi. Loài chim cánh dài bay được xa, lượn giỏi; không con nào vượt được cây số, giờ, đường trường. Con tàu này đang đọ bình phi, vận tốc không dưới 900/cây số giờ... Phúc Hên dán mắt vào đôi cánh, nghe trong lòng một trạng thái mời gọi cuốn hút kỳ lạ, vui tươi... như vui tươi, như tha thiết.
Chàng hoa tiêu nhóm lên muốn rời khỏi ghế, tiến tới; nhưng nhớ đến con tàu. Không quay lại, chỉ đưa tay nắm lên đùi hoa tiêu phụ:
"Hoành, Hoành! Dậy mau, đi."
"Cái gì thế?"
Hoành chồm thân người về phía trước, cánh tay phải đưa lên giụi mắt:
"Con chim, cậu có thấy con chim không?"
Hoành vừa muốn hỏi con chim nào thi đôi cánh trắng đột nhiên chao, chúc xuống. Phúc Hên mở 2 mắt lớn, đưa mạnh cần lái về phía trước, đạp chân bên trái. Con tàu đổ theo cánh chim, Hoành giật mình, 2 tay vồ lấy cần lái, kéo trở về:
"Ông, ông làm gì thế?"
Tiếng hỏi chưa dứt, trong khoảng không, một khối đen lao tới, cùng những thấp thoáng xanh đỏ, trắng ấp tới. Đoạn, vút cao lên. Rồi, đánh 'ầm' một tiếng, làm rung chuyển cả thân tàu. Nhưng chỉ thế, rồi thôi. Phúc Hên tỉnh táo, lấy lại quân bình dễ dàng.
Một người trẻ, quấn áo bảnh bao, hé cửa; hỏi:
"Có gì thế, các ông? "
"Chúng tôi cũng chưa rõ. Có lẽ tàu gặp cơn lốc nhọn, cũng có thể không phải vậy. Để ông Hoành về phiá sau, xem sao."
Tĩnh Thúy đứng sau chàng trai vừa cất tiếng nói:
"Đằng sau vẫn yên, chỉ ly chén đổ lung tung. Hình như đuôi tàu đụng hơi mạnh. Anh Phúc này, đèn tê-moanh ra sao anh?"
"Không có gì, 3 máy đều, lái đuôi vững. Không hiểu... không hiểu tàu đụng phải cái gì. Biết đâu một SAM trúng vào, mà không nổ.”
Người trong tàu không thể nào hay biết được, nhưng viên sĩ quan vô tuyến giao liên đã biết:
"Anh Phúc, tôi vừa bắt được tần số thằng Jack của bạn nước vĩ đại cho biết, 'nó vừa sát nhẹ vào một phi cơ ngược chiều; sau khi thoát khỏi đụng thẳng mặt. Nó nói ra-đa của nó nhận ra thì quá muộn; trong khi tàu trước mặt đã chúc xuống về phiá tay phải nó, vừa vặn kịp. Nó hỏi 'có sao không'; nó đang bay vòng lại, bay ở cao độ 40 ngàn bộ; nó hỏi ta có can gì không; để nó còn báo về Cam Ranh... nó còn nói 'ta 'năm-bờ-oăn'."
"Mẹ nó, cậu hỏi tại sao nó đi vào 'way' này?"
"Nó xin lỗi, nó nói 'cao độ kế' của nó bị hư'."
"Mẹ nó, cậu cho nó biết 'chúng ta 'ô-kê'; trừ những hư hại có thể đến sau."
Vừa lúc đó, Phúc Hên ngước mắt nhìn, thấy đèn sáng của chiếc khu trục.
“Cậu bảo, "ta tha cho nó, đi đi. Nó có theo mình cũng vô ích, lần sau thì tôi đập vỡ mặt nó ra."
Chuyến bay tiếp tục; mọi người vây quanh hoa tiêu. Hỏi, 'tại sao anh tránh kịp?' Nhưng anh chỉ mỉm cười, yên lặng, xa vắng; cho đến khi Tĩnh Thúy nói một câu thật chính xác:
"Thì anh ấy là Phúc Hên, Phúc Hên mà!"
***
Sáng hôm sau, Phúc Hên về đến nhà. Ăn điểm tâm xong, ngồi hút thuốc lá ngoài hiên, nghe Mến kể:
"Lạ lắm anh, anh đi rồi thì có con chim trắng đến đậu trên hàng rào. Em đuổi, nó không bay đi; mà, em nói cái này, anh đừng cười em nhá... Em đến gần con chim, xua nó; nó không sợ; hình như nó cón ngoẹo cái đầu; rồi nhắm một mắt lại; y hệt chú... y hệt chú Hai trước kia, hay trêu em đó..."
Phúc nhảy một bước xuống sàn, nhìn quanh quẩn, hỏi: 'đâu, nó đâu rồi..."
-Anh trung tá Soạn bảo, 'nó là con 'mố', giống nó ở biển, khi vào đất liền là xui lắm, lấy súng bắn nó. Bắn hụt hoài, hình như nó có vẻ quyến luyến nhà mình. Nhưng săn nó mãi rồi nó cũng bay đi luôn. "
"Mẹ nó, thắng khốn nạn!"
Mến ngạc nhiên, qua câu chửi rủa quá nặng. Nhưng nàng vẫn không ngạc nhiên bằng việc thấy Phúc nói, 'xin giải ngũ, rồi bán nhà, ra biển lập nghiệp, để mỗi buổi cho chim ăn... như cố tìm lại 'một con chim biết nhắm một mắt, ngoẹo đầu' -- là cố tìm thấy dấu vết người em thân mến xưa kia...
Nguyễn Mạnh Côn
(trong "Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến", nxb vàng son, Saigon 1974)
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 29
~~~
(Thủ bút, chữ ký và chân dung KQ Tr/tá Trần Tam Tiệp, hàng dưới - bên trái)
Bóng dáng thoải mái, trẻ trung của anh trong bộ quân phục đại lễ mầu trắng làm gương mặt trang nghiêm hơn. "Như cái oai nghiêm của chú hải âu có đôi cánh trắng, như bóng dáng tự tin lao mình vào không trung để thử 'cú' bay đầu tiên" -- nhưng tôi vẫn cho tôi thấy một cái gì tươi mát và tin tưởng trong tim, một con tim quá già trước tuổi.
Cuốn 'Chàng hải âu kỳ diệu', hiện là cuốn truyện phá kỷ lục về số phát hành, ngang với cuốn 'Cuốn theo chiều gió', đang làm xao động nền văn chương Hoa Kỳ, với cốt truyện thật giản dị -- cuộc đời một chú hải âu ở miền bể lúc mới học bay, khi đã bay được; chú liền nghĩ ra nhiều lối bay tân kỳ, để trở thành bậc thầy, truyền 'đạo bay 'cho một số chú hải âu môn đệ.
Nha Trang cũng là bờ biển; và, anh bạn vào đời Không Quân trên vai mới nhú, như một chiếc cánh vụng dại, ngờ nghệch ở một bãi biển xa xôi -- và, tôi còn nhớ, tưởng như mới hôm qua -- được chứng kiến sự quyết tâm của bạn gia nhập Không Quân -- qua những hàng rào thép gai; quân cảnh [kiểm soát quân sự] -- và, cả rừng tấm lòng quyết tâm như bạn. Sự quyết tâm mà Richard Bach đã viết như sau,
" ... là ngọn lửa bé nhỏ sáng ngời đang rực cháy trong tất cả chúng ta, những người chỉ sống cho những giây phút mà chúng ta cảm thấy đọat đến đỉnh tuyệt vời."
Đỉnh tuyệt với ấy là thước ka-ki, cái đầu trọc lốc; và, chuỗi ngày huấn nhục tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang. Cũng giống như chú hải âu, anh bạn đã phải qua bao nhiêu khổ cực, có khi cả bao nhiêu nước mắt nhỏ vụng trong đêm, để nuôi một kỳ vọng: mình sẽ được bay và bay được.
Niềm tin vững chắc đó, cũng giống như niềm tin của một bé hải âu gãy cánh được Cao Phi (tên chàng hải âu kỳ diệu) nói với hắn,
"Em có cái tự do để trở nên 'chính mình'. 'Cái mình thực' của em; ngay đây, bây giờ -- và, không một cản trở nào ngăn chặn em được!"
'Bé hải âu' gãy cánh hỏi,
" Có phải anh nói em có thể bay?"
Cao Phi trả lời,
" Ta nói là em tự do!"
'Bé hải âu' bay được, cũng như bạn -- sau bao nhiêu cam go của những buổi địa huấn khó khăn, những giờ học lý thuyết cực nhọc, khó nuốt -- mà chỉ có những người vững niềm tin như bạn, mới có thể chịu đựng được, vượt qua được -- để một sáng nào đó leo lên phi cơ, ngồi ghế trước, cầm cần lái trong tay, mà lòng tràn ngập xúc động -- vì đỉnh tuyệt vời đã đạt: được bay.
Hải âu mẹ sẽ kèm bạn một thời gian để truyền lại cho bạn tất cả kinh nghiệm, bí quyết của cuộc đời làm thầy, với thật nhiều an ủi: khuyên răn, khích lệ; và, cả cáu giận, để một ngày nào hải âu mẹ thấy có thể nói với bạn câu: 'ngày mai thả chú bay 'solo' được rồi' -- để sau lần đáp một mình thành công, bạn có thể tự hào để gần tới đoạn đầu cuộc sống mới: phi công Việt Nam.
Không phải chỉ là Không Quân; nhất là nhà văn Không Quân -- hay ít ra, cũng như bạn -- nên tôi không hưởng được cái kiêu hãnh, những người nhận ra được là mình ở trên cao, thật cao hơn, hơn hẳn lũ nhân loại đang lúc nhúc sống dưới đất. Ở trên vòm trời thánh khiết không bị ô nhiễm, chắc chắn tâm hồn bạn sẽ thật thanh thản, loại bỏ mọi bon chen, danh lợi, mưu mô; để được sống thật với chính bản thân mình.
Mộng ước lớn nhất của tôi là được lên thật cao một lần; để nhìn xuống lũ người dưới đất xem sao; nhưng đến bây giờ, hơn nửa đời người -- mức lên cao nhất của tôi chưa vượt quá tầng lầu 3 của một cao ốc, vùng ngoại ô nghèo nàn. Mới ở tầng lầu 3; tôi đã nhìn được thấy mái nhà nào bằng bê-tông, mái nào lợp tôn, che lá -- cũng đã phải cười ra nước mắt, về cái giả dối của một số người khi làm nhà -- bề ngoài thật đồ sộ, đẹp đẽ; nhưng, trên nóc lại thật nghèo nàn, vay mượn. Thật buồn cho những hào nhoáng vay mượn bề ngoài của một lũ trọc phú, chó nhảy bàn độc.
Đó; mới chỉ cao không quá 6 thước, tôi đã khám phá được cái chua xót buồn nôn đó; thì, bạn ở trên cao hơn tôi hàng mấy trăm lần, bạn sẽ thâu thập được đầy đủ hình ảnh con người -- và, hàng ngày nhìn thấy quá nhiều cảnh bon chen; để tiện đó, bạn sẽ cảm thấy lòng mình vị tha, quảng đại, rộng rãi hơn lên -- chắc chắn sẽ buồn cho những ai, cả đời chưa được một lần trên cao để nhìn xuống cuộc đời.
Rồi một ngày nào đó, võng la chỉ đạo đè nặng cánh bay, bạn sẽ làm thầy, truyền 'đạo bay' lại cho lũ hải âu nhỏ bé mơ ước nghiệp bay, dấn thân vào Không Quân -- đồng thời bạn sẽ thấy bay là một cái nghiệp -- tới lúc đó, bạn nhìn lại Không Quân, bằng đôi mắt, dù tha thiết, hận thù -- thì tầm mắt vẫn còn bị giới hạn -- nhưng hãy bằng tấm lòng quảng đại thứ tha -- bởi bạn là những người sống trên bầu trời xanh vút dài hơn mọi người -- và đã biết thế nào là Tự do.
Trần Tam Tiệp
(trang 415- 419, "Tập Thơ Truyện Không Quân Thời Chiến", nxb vàng son, Saigon 1974)
@@@ Đôi dòng tiểu sử tác giả:
"... Niên Trưởng Trần Tam Tiệp sanh ngày 11/11/ năm 1928 (mất ngày 23/12/2009), tốt nghiệp trường sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa 2, gia nhập Không Quân năm 1954, theo học khoá phi hành tại Maroc, từng phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân Không Quân.
Niên trưởng được anh em Không Quân biết nhiều khi phụ trách Phòng An Ninh Không Quân.
Với cấp bậc Trung Tá, tinh tình cương trực và thanh liêm với thượng cấp và lúc nào cũng đức độ, hoà nhã, rộng lượng với trực thuộc nên được anh em Không Quân quí mến và trọng nể, Niên Trưởng còn là một trong những chủ biên tập san Lý Tưởng Không quân dưới bút hiệu Đạo Cù và là cây bút quen thuộc trong giới báo chí Việt Nam trước năm 1975.
Sau tháng tư 1975, Niên Trưởng định cư tại Pháp, cùng với một số nhà văn Việt Nam, nhanh chóng thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, vận động và liên lạc công tác được Văn Bút Quốc Tế chính thức nhìn nhận liên tục cho đến ngày hôm nay. Ngoài ra còn vận động kêu gọi Văn Bút Thế Giới tranh đấu bảo vệ các văn nghệ sĩ Miền Nam bị cộng sản bắt giam không xét xử. Chính nhờ những sự vận động bền bỉ đó mà tổ chức ‘‘The International Pen Writers in Prison Committee’’ đã dành cho các nhà văn, nhà báo đó nhiều trợ giúp có ý nghĩa hoặc được can thiệp bảo trợ.
Niên Trưởng còn bỏ tiền túi và kêu gọi anh em, gởi tiền về để giúp đỡ các đồng đội và văn nghệ sĩ đang bị cộng sản cầm tù trong những năm đó. Niên Trưởng còn vận động các quốc gia Âu Châu như Ý Đại Lợi và Thụy Diển cho cuộc tranh đấu về Tự do và Hoà Bình cho nhân loại... "
(trích "Điếu văn Niên Trưởng Trần Tam Tiệp của Hội Ái Hữu Không Quân tại Pháp ngày 06/01/2010")
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 28