Truyện VNAF

Tháng tư đen 1975. Thoáng mà đã hơn bốn thập niên trôi qua ! Từ tháng 3 năm 75 , cộng quân mở rộng chiến tranh. Ngày 13 tháng 3 Ban Mê Thuột thất thủ, kéo theo Quảng Trị và Huế mất ngày 26 tháng 3, sau đó Đà nẵng , ngày 29 tháng 3 rồi đến Nha Trang lọt vào tay CS ngày 1 tháng 4. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, tuyến đầu Phan Rang thất thủ, phần lớn phi cơ A-37 đã được bay về đồn trú tại phi trường Tân Sơn Nhất. Các diễn biến ấy như báo trước sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà khi mà người đồng minh lâu đời đã trở mặt quay lưng. . .
____________________________________
Buổi chiều ngày 28 tháng 4, như thường lệ sau khi thi hành xong phi vụ hành quân, chúng tôi phóng ra cổng dùng cơm chiều, sau đó trở vào phòng trực hành quân để túc trực đêm. Bốn người chúng tôi: Thi, Chấn, Nhân và tôi đèo nhau trên 2 chiếc xe Lam, vừa vào đến cổng bổng nghe tiếng gầm thét của phản lực cơ đang oanh kích. Một vài cụm khói đen bốc lên từ nơi bến đậu phi cơ vận tải. Chiếc phi cơ A-37 cuối cùng vừa thả bom xong đang vội vả kéo lên và đuổi theo đồng bọn đang lấy hướng Đông Bắc. Tôi nghĩ thầm: “nếu giờ nầy mà các cánh gió siêu thanh phóng lên thì tụi nầy chắc là sẽ nguy to”. . . nhưng chờ đợi mãi vẫn không thấy động tĩnh gì, thế là cả bọn giặc đã thoát nạn.
Chúng tôi phóng nhanh vào phòng hành quân để tìm hiểu xem việc gì đang xảy ra, phi cơ xuất xứ từ đâu? phi đoàn nào? Loại trừ phi cơ thuộc KĐ92CT của chúng tôi, thì chỉ còn có phi đoàn 532 Gấu Đen và các phi đoàn 520 Thần Báo, 526 Quỷ Vương và 546 Thiên Sứ đang trú đóng ở Bình Thủy (Trà Nóc).
Sau khi liên lạc với Phòng Hành Quân Chiến Cuộc SĐ4KQ thì họ xác định là không có một phi tuần A-37 nào cất cánh. Như vậy thì 5 phi cơ A-37 nầy xuất phát từ đâu? Không thể cất cánh từ Phù Cát hay Đà Nẵng (vì quá xa không đủ nhin liệu để đi và về). Chắc chắn là xuất phát từ phi trường Phan Rang. . . . . .
Mãi sau nầy, qua các báo chí thông tin của CS ta được biết 5 phi cơ đó thuộc Phi Đội Quyết Thắng mà biên đội trưởng do tên Nguyễn Văn Lục (bay số 3) chỉ huy toàn bộ, Nguyễn Thành Trung chỉ có nhiệm vụ bay dẫn đường.
- Số 1: Nguyễn Thành Trung
- Sồ 2: Từ Để (con trai của Từ Giấy)
- Số 3: Nguyễn Văn Lục (chỉ huy)
- Số 4: Mai Vượng (chết tháng 7 năm 1975 trong 1 phi vụ huấn luyện) và tr/úy Trần văn Ơn (phi công KQVNCH).
- Số 5: Hán Văn Quảng
*****
Buổi tối, chúng tôi đang ngồi uống càphê trong phòng trực hành quân thì Đại tá Lê Văn Thảo (KĐT/KĐ92CTKQ) bước vào. Ông gọi:
- Thi, Chấn, Tứ và Liễn vào văn phòng gặp tôi.
Chúng tôi vào văn phòng, Đại tá Thảo trao cho anh Thi bản phi lệnh hành quân và ông nói ngắn gọn:
- 5 phi cơ A-37 oanh kích buổi chiều là xuất phát từ phi trường Phan Rang. Không Đoàn 92 chúng ta phải thi hành phi vụ trả đủa đánh vào phi trường Phan Rang đêm nay: phi cơ mang bom nổ sẽ đánh vào bải đậu phi cơ và phi đạo còn phi cơ mang CBU-55 sẽ đánh vào Bộ Chỉ Huy của chúng (nghi ngờ là đang đóng ở 2 “trailers” cuối phi đạo. Phi trường Phan Rang giờ đây là nằm trong tay địch, hoả lực và phòng không của địch ta không rõ, do đó các anh phải rất là cẩn thận và phải thích nghi trong mọi tình huống, chủ yếu là an toàn tối đa.
Khi ông ra khỏi phòng họp, anh Thi bảo:
- Chấn mầy đi lead
- Liễn bay số 2
- Tao bay số 3
- Tứ bay số 4
Sau đó Th/tá Chấn thuyết trình sơ lược phi vụ:
- Danh hiệu phi tuần là Phong Giao, check in và di chuyển tần số 1, cất cánh tần số 2, Paris tần số 3, làm việc tần số 6. Họp đoàn cất cánh từng 2 chiếc, tập họp hướng 060, bình phi 19,500 bộ, họp đoàn hành quân (tactical formation) trực chỉ thành phố Phan Rang, 1 và 3 tắt “beacon” chỉ để đèn wing tip “dim”, 2 và 4 tắt tất cả đèn. Đến Phan Rang, chúng ta sẽ bay dọc theo sông Danh, khi đến mục tiêu, phi tuần sẽ dãn ra ở họp đoàn chiến đấu (combat formation), lần lượt tấn công vào mục tiêu đã định. Giải toả hướng nam, lấy hướng 210 , tập họp cao độ 20,500 trở về căn cứ xuất phát.
Mọi người nhận rõ và lấy dù mũ, sẳn sàng xuất phát.
*****
Chuông điện thoại reo vang. . .
- Alo, th/tá Chấn nghe.
- Thưa Th/tá, tôi là tr/sĩ Cơ, phi đạo A-37, xin báo cáo Th/tá các phi cơ đã trang bị sẳn sàng.
- Cám ơn anh, chúng tôi sẽ ra phi cơ ngay.
Chiếc xe Van đưa chúng tôi ra phi cơ. Bốn phi cơ A-37 đen sì, dưới cánh nặng trĩu bom đạn. Tôi kiểm soát bom đạn dưới cánh, cánh gió, cánh đuôi, xong phóng nhanh vào phòng lái, nai nịt, đội mủ, gắn ống dưởng khí, ra dấu gắn APU (Auxiliary Power Unit) để mở máy. Cơ trưởng gắn APU vào, đẻn phi cụ trong phòng lái sáng rực. Cơ trưởng xoay ngón tay trỏ ra hiệu mở máy, tôi gật đầu hiểu ý. Tôi mở máy trái xong rồi máy phải. Hai máy đã khởi động tốt, tôi ra dấu hiệu rút APU.

Tôi check sơ các phi cụ, mở máy truyền tin lên. Một phút sau nghe trên tần số vô tuyến:
- Phong Giao, thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- 1 nghe 2, 3, 4! 5 trên 5.
- Đài Kiểm Soát Tân Sơn Nhất, Phong Giao gọi!
- Tân Sơn Nhất nghe Phong Giao!
- Tân Sơn Nhất, đây Phong Giao xin di chuyển và cất cánh 4 phi cơ A-37!
- Phong Giao, Tân Sơn Nhất nhận rõ, cho phép di chuyển và cất cánh đường bay 25, gió hướng. . . mạnh. . . liên lạc tần số 2 để cất cánh.
- Phong Giao nhận rõ!
Bốn phi cơ A-37 âm thầm di chuyển đến cuối phi đạo, Phong Giao 1 ra lệnh:
- Phong Giao, tần số 2
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- Đài Kiểm Soát, Phong Giao sẳn sàng cất cánh!
- Phong Giao, đây là Đài Kiểm Soát cho phép bạn cất cánh.
- Phong Giao hiểu!
Phi cơ 1 và 2 so hàng ngang cánh trên phi đạo, số 1 ra dấu cất cánh. Đẩy tay ga lên 95%, số 1 từ từ nhả thắng. Phi cơ lướt nhanh trên phi đạo. Tiếng gầm thét của các động cơ phản lực xé tan sự tĩnh mịch của đêm, ánh lửa phụt ra từ phía sau động cơ làm tăng thêm vẻ uy nghi của 4 con chim sắt khi rời mặt đất.
- Phong Giao 1, 3 và 4 “airborne”.
- 1 nhận rõ. Phong Giao qua tần số 3.
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao thử vô tuyến.
- 2!
- 3!
- 4!
- 1 nghe rõ 2, 3, 4.
- Đài Kiểm Báo Paris, phi tuần Phong Giao 4 phi cơ A-37 cất cánh từ Tân Sơn Nhất, phi vụ đặc biệt, xin cho biết thời tiết hướng Đông Bắc khoảng 120 dậm và xin radar theo dõi!
- Phong Giao, Paris hiểu. Thời tiết hướng Đông Bắc tốt, trần mây. . . , tầm nhìn xa. . . đã nhìn thấy bạn trên màn ảnh radar và sẽ theo dõi!
- Paris! Phong Giao cám ơn bạn!

Phi tuần lấy hướng Đông Bắc, lấy thành phố Phan Rang làm chuẩn, sau đó sẽ bay dọc theo sông Danh, hướng Tây Tây Bắc để oanh kích phi trường Phan Rang theo những mục tiêu đã định.
Đã hơn 2 tuần kể từ sau ngày di tản khỏi Phan Rang, giờ đây mỗi người trong chúng tôi không ai tránh khỏi bùi ngùi khi trông thấy lại thành phồ cũ, những con đường xưa thân yêu và quen thuộc. Trăng sáng vằng vặc thành phố Phan Rang trước mặt đèn đuốc vẫn sáng choang. Tôi nhìn đồng hồ: 12 giờ 30 phút. Đã sang một ngày mới: ngày 29 tháng 4. . .
Th/tá Chấn nghiêng cánh trái bay dọc theo sông Danh hướng về phi trường. Năm phút sau, dưới ánh trăng lờ mờ phi trường hiện rõ hai phi đạo song song (phi đạo 04-22), cuối đường bay là bãi đâu phi cơ A-37 (khoảng hơn 10 chiếc). Trong số phi cơ nầy chắc chắn là phải có 5 chiếc ban chiều đã oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất. Trong đầu tôi chợt thoáng lên một niềm thù hận: mình sẽ cố gắng đập nát tất cả các phi cơ nầy... Đang suy nghĩ vẩn vơ chợt nghe văng vẳng mệnh lệnh của Phong Giao 01:
- Phong Giao sang tần số 6.
- 2,3,4 nhận rõ!
- Phong Giao thử vô tuyến!
- 2!
- 3!
- 4!
- Phong Giao vào đội hình chiến đấu, 1 và 3 đánh vào Bộ Chỉ Huy, 2 đánh vào phi đạo, 4 đánh vào bãi đậu phi cơ,. Tắt đèn khi roll-in. Thả 1 pass interval. Tập họp ở hướng Nam 20,500 bộ.
- 2 hiểu!
- 3 hiểu!
- 4 hiểu!
Tuần tự từng chiếc lao vào mục tiêu. Những đóm lửa loé sáng. . . những tiếng nổ phụ. . . Tôi lao vào mục tiêu nhấm vào bãi đậu phi cơ, tôi bay xuống thấp. 3000, 2500 rồi 2000 bộ. Tôi bấm nút thả bom. . . Tôi kéo vụt phi cơ lên, quay lại nhìn. . . Bốn quả bom nổ, phi cơ bị chao động mạnh, có lẽ tôi xuống quá thấp. . .
Phi trường tối đen không một ánh đèn. Chúng tôi không ghi nhận một hoả lực nào từ dưới đất. Có lẽ bè lủ Nguyễn Thành Trung quá vui mừng vì phi vụ thả bom xuống phi trường Tân Sơn Nhất ban chiều hoặc là vì chúng tôi trả đủa một cách quá bất ngờ nên chúng chưa kịp có phản ứng?. .
Chỉ với 1 phi tuần 4 phi cơ A-37 với hoả lực quá ít oi, phi vụ trả đũa nầy không làm sao xoay trở tình thế, chỉ muốn cho bọn cộng sản biết rằng các phi công khu trục của VNCH sẳn sàng dập tắt những âm mưu xâm lăng của chúng.
*****
Oanh kích xong chúng tôi lên cao độ 20500 bộ, tập họp lại đổi sang tần số 3, báo cáo phi vụ hoàn tất cho Đài Kiểm Báo Paris rồi lấy hướng 210 trực chỉ Tân Sơn Nhất. . . Mọi người giử im lặng trên tần số.
Chúng tôi hạ cánh lúc 1 giờ 15 rạng ngày 29 tháng 4. Vào đến Phòng Hành Quân chưa kịp uống ly cà phê, đã phải tối tâm mặt mủi khi những quả pháo kích của địch rót xối xả vào những phi cơ A-37 đang đậu trên đường di chuyển (taxi way).
Cộng quân tiếp tục pháo kích cho đến sáng, toàn bộ phi cơ A-37 của KĐ92CT hầu như bị phá hủy hoặc hư hại nặng, không còn có khả năng bay được nữa.
Ngày 29 tháng 4, Tân Sơn Nhất vô cùng hỗn loạn, người người xuôi ngược tìm phương tiện thoát thân. May mắn cho thiếu tá Vũ Ngọc Liễn tìm được phi cơ xuống SĐ4KQ và sau đó đã tìm được phương tiện đi Utapao, hiện đang cùng gia đình định cư tại miền nam California.
Riêng cá nhân tôi, Tr/tá Thi và Th/tá Chấn dù có tìm đường lặn lội xuống tới Rạch Giá vẫn không thoát được số “tù”. Rồi cả 3 bị bắt vào trại tù “cải tạo”. Anh Thi (3 lần vô ra trại tù) tổng cộng 13 năm tù, tôi 10 năm rưởi, Chấn 8 năm, ra tù và vượt biên năm 1983, hiện cư trú cùng gia đình tại tiểu bang Florida. Tôi vượt biên năm 1986, đến Mỹ năm 1987 và đang sống với gia đình tại miền bắc California. Anh Thi đi diện HO năm 1992, định cư ở Dallas (Texas). Anh đột ngột mất đi ngày 12 tháng 1 năm 1995 trong nỗi cô đơn nơi xứ người.
Tôi viết lại hồi ký nầy để tưởng nhớ đến anh Nguyễn Văn Thi, một người chỉ huy giỏi, dũng cảm, một người anh và là một người bạn chân thành. Cũng xin gởi đến 2 bạn Chấn và Liễn, những người bạn cùng khóa (63A/SVSQKQ) đã cùng sát cánh bên nhau cho đến ngày tàn cuộc chiến.
KQ Tạ Thượng Tứ
Tháng Tư Đen 2014
*****
Ghi chú: Phi tuần Phong Giao
Số 1: Thiếu tá Nguyễn Phấn Chấn, Phi Đoàn Phó PĐ548 Ó Đen
Số 2: Thiếu tá Vũ Ngọc Liễn, Phi Đoàn Phó PĐ 524 Thiên Lôi
Số 3: Trung tá Nguyễn Văn Thi, Phi Đoàn Trưởng PĐ 534 Kim Ngưu
Số 4: Thiếu tá Tạ Thượng Tứ Trưởng Phòng Huấn Luyện KĐ92CT/Phan Rang
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 846
Phi vụ trực thăng võ trang đầu tiên của Không Lực VNCH
KQ Trương Thành Tâm
---oo0oo---

KQ Trương Thành Tâm là một Trung Tá trong Không Lực VNCH, xuất thân Khóa 16 TVBQGVN, Phi Đoàn Trưởng PD Thần Ðiểu 217 (1969-1973), Không Đoàn Trưởng KD64CT (1973-1975) tại SD4KQ (Vùng 4 Chiến Thuật).
Là một sĩ quan xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) vào năm 1962 nhưng lại được chọn phục vụ cho KQVN từ ngày mãn khóa, tôi rất lấy làm hãnh diện được phục vụ trong ngành Phi Hành. Nhưng tôi đã rất thất vọng sau khi về trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân và được lệnh phải đi Hoa Kỳ ngay để học bay trực thăng. Vào năm 1963, trực thăng đang là một ngành bay còn sơ khai mà mộng tôi là được bay khu trục chiến đấu. Tuy nhiên tôi nghĩ số trời đã định, mình không thay đổi được. Giấc mơ của tôi tình nguyện vào TVBQGVN, làm một người sĩ quan hiện dịch với lý tưởng chống Cộng, gìn giữ cho miền Nam này không rơi vào tay Cộng Sản độc tài, luôn bịp bợm người dân và quốc tế, đã bị giao động mạnh.
Nhưng rồi trực thăng đã trở thành một loại phi cơ chiến đấu sát liền với quân bạn trong cuộc chiến, một khí cụ cần thiết và hiệu quả cho cuộc chiến với Cộng Sản sau những năm 1964 Ngoài những phi vụ quen thuộc như bay liên lạc, tải thương, tiếp tế, đổ quân,v.v... thì năm 1970 đã đưa trực thăng lên một nấc thang quan trọng vô cùng cho Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (KLVNCH) với những chiếc Trực Thăng Võ Trang (TTVT). Phi vụ TTVT đầu tiên của KLVNCH được thực hiện tại Prey Veng (5.1970), trong cuộc chiến xâm nhập Kampuchea (K) để diệt trừ quân CS vẫn lẩn trốn về bên quốc gia này một cách an toàn bao lâu nay dưới sự làm ngơ của Sihanouk, quốc trưởng nước Kampuchea lúc bấy giờ. Cuộc đảo chánh của tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk ngày 18 tháng 3, 1970, đã cho phép quân đội chúng ta truy nã quân Cộng Sản (CS) qua tận vùng an toàn bên Cao Miên của chúng. Ðây là diễn tiến của một phi vụ ra quân với TTVT của KLVNCH lần đầu tiên đã làm cho quân CS thất bại não nề, thiệt hại quân số nhiều vì bị hoàn toàn bất ngờ.

Một Hợp Ðoàn Trực Thăng vẫn thường gồm có một phi cơ bay chỉ huy (C&C), khoảng 6 trực thăng đổ quân (slicks) và 3 chiếc trực thăng võ trang (TTVT) để yểm trợ hỏa lực cho quân bạn. Cho đến ngày 28 tháng 5, 1970, TTVT yểm trợ luôn luôn là từ quân đội Mỹ. Những cuộc chiến vào K thì không được TTVT Mỹ yểm trợ vì TT Nixon lúc bấy giờ, chỉ cho quân Mỹ yểm trợ không được quá 7 km vào nội địa K. Prey Veng, thành phố K này nằm quá tầm bay 7 cây số nên quân Mỹ không thể yểm trợ bằng TTVT hay khu trục cho quân lực VNCH.
Ngày 28 tháng 5, 1970, Phi Ðoàn 217 được lệnh trình diện tại Neak Leung bên K để trực thăng vận quân Thủy Quân Lục chiến của Quân Lực VNCH giúp quân đội Miên giải cứu Prey Veng. Tôi bay C&C và với các sĩ quan chỉ huy của Lữ Ðoàn B TQLC do Ðại Tá TQLC Tôn Thất Soạn làm lữ đoàn trưởng. Vì không có TTVT yểm trợ nên để tránh tổn thất cho hợp đoàn, tôi đã không cho đổ quân gần sát thành phố được.
Tiểu Ðoàn 1 TQLC đã tiến quân vào rất nhanh dưới làn mưa đạn của quân CS đang chiếm các cao độ trong thành phố. Vì là mùa khô nên các đồng ruộng là bãi đáp cũng rất khô và trống nên các anh em TQLC của chúng ta đã phải tiến vào thành phố dưới lợi thế của địch quân đang chiếm các địa thể có cao độ hơn. Sự thiệt hại của quân bạn thật rõ rệt&cuộc đổ quân chấm dứt sau khi TD 1 TQLC đã hoàn thành nhiệm vụ xuống bãi đáp và tiến quân vào Prey Veng. KLVNCH đã yểm trợ chiến trường bằng các đội khu trục A-37 của Sư Ðoàn 4 KQ... Qua liên lạc vô tuyến, quân bạn TQLC đã xin yểm trợ TTVT để tránh bớt thiệt hại cho quân lính.
Chiều lại, sau khi hướng dẫn hợp đoàn đổ quân PD217 về lại hậu cứ Bình Thủy an toàn, tôi đã có thời giờ để suy nghĩ rất nhiều làm sao để tránh bớt thiệt hại cho quân bạn TQLC của chúng ta trong ngày mai khi phải đổ thêm Tiểu Ðoàn 4 TQLC vào chiến trường nối tiếp với Tiểu Ðoàn 1 ngày hôm nay. Trên đường bay về hậu cứ, tôi giao phi cơ cho hoa tiêu phó Trung Úy Cao Minh Hoàng và ngồi suy nghĩ phải có giải pháp để TTVT có thể yểm trợ Tiểu Ðoàn 4 TQLC trong ngày mai thì mới giảm thiểu được thiệt hại nhân sự cho quân bạn...
Ðêm 28 tháng 5, 1970, tôi tìm ra được giải pháp.
Lần đầu tiên trong cuộc chiến VN, Hoa Kỳ mới bằng lòng cung cấp cho KLVNCH, TTVT cho chiến trường. Họ bắt đầu bằng cách đưa một nhóm huấn luyện viên TTVT với 6 phi cơ và chọn căn cứ KQ Bình Thủy làm nơi huấn luyện TTVT cho tất cả các Phi Ðoàn Trực Thăng từ Vùng 1 đến vùng 4 Chiến Thuật.
Phi đoàn 211 và 217 được chọn để học khóa huấn luyện đầu tiên về TTVT. Tôi đã họp PD 217 và nói rằng: “Bao nhiêu lâu nay hành quân chúng ta đã là những miếng mồi ngon, bay chậm và thấp, không có hỏa lực mạnh. Nhưng tình thế này đã thay đổi, chúng ta có một cơ hội để bay TTVT với hỏa lực hùng hậu đề yểm trợ quân bạn và tiêu diệt địch quân trước khi mình bị bắn...” Anh em phi đoàn đồng ý và đã tình nguyện cùng tôi học lớp huấn luyện đầu tiên bay TTVT vào tháng 3, 1970. Sau khi mãn khóa học, PD 217 đã có 6 phi hành đoàn đầy đủ khả năng để bay TTVT trên chiến trường, yểm trợ cho hợp đoàn đổ quân và quân bạn.
Tôi xin được gặp Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh là không đoàn trưởng Không Ðoàn 74 Chiến Thuật, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Tôi trình bày tình hình chiến trường tại Prey Veng ngày hôm nay và cho đại tá biết là quân bạn và có thể cả phi hành đoàn sẽ phải hy sinh rất nhiều ngày mai khi đổ quân mà không có TTVT yểm trợ. Vậy tôi xin đại tá cho tạm ngưng chương trình huấn luyện TTVT trong một ngày để PD 217 được bay những chiếc trực thăng võ trang yểm trợ cho cuộc đổ quân TD4 TQLC ngày mai. Ðại Tá Ánh nói: “Anh đòi hỏi tôi làm một quyết định ngoài thẩm quyền của tôi, để tôi gọi lên trung tướng tư lệnh Không Quân xin chấp thuận phi vụ này.” Trung tướng tư lệnh chấp thuận phi vụ TTVT đầu tiên của KLVNCH này.
Về lại phi đoàn tối hôm 28 tháng 5, 1970, tôi lại họp trọn vẹn PD217 và nói rằng: “Ngày mai chúng ta sẽ có cơ hội bay TTVT yểm trợ cho quân bạn lần đầu tiên trong lịch sử của KQVN, tôi sẽ tình nguyện bay chiếc số 1, có ai tình nguyện bay chiếc số 2 và số 3 không?” Sự đáp ứng của phi đoàn đã ngoài sức tưởng tượng của tôi. Ai cũng nhìn thấy sự thiệt hại của quân bạn hôm nay và đều muốn hy sinh bay TTVT ngày mai. Tôi chọn 3 phi hành đoàn ngay tối hôm đó. Chiếc TTVT số 1 đó tôi làm trưởng phi cơ, số 2 là Thiếu Tá Dương Quang Lễ, bạn đồng khóa 16 với tôi, số 3 là Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải.
Sáng hôm sau, ngày 29 tháng 5, 1970 PD 217 xin tình nguyện bay yểm trợ cuộc chiến ở Prey Veng. Hợp đoàn Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu cất cánh với chiếc C&C, 6 trực thăng đổ quân và 3 TTVT. Lần đầu tiên trong cuộc chiến VN các trực thăng đổ quân của PD217 được yểm trợ bằng chính hỏa lực từ TTVT của đơn vị mình. Lúc cả hợp đoàn bay qua biên giới vào nước Miên, tôi cảm thấy một niềm hãnh diện lớn lao cho lực lượng trực thăng của KLVNCH.
Hợp Ðoàn Thần Ðiểu đến trình diện Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Ðại Tá Tôn Thất Soạn, lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn B TQLC tại Neak Leung và được lệnh bốc Tiểu Ðoàn 4 TQLC từ Neak Leung đổ vào Prey Veng tiếp nối với Tiểu Ðoàn 1 quyết lấy lại thành phố Prey Veng cho Quân Ðội Miên từ tay quân Cộng Sản Bắc Việt. Vì có TTVT yểm trợ bằng hỏa tiễn và súng mini-gun bắn ra hàng ngàn viên đạn trong một phút, nên trực thăng đổ quân bạn vào sát gần thành phố hơn, tránh thiệt hại cho quân bạn TQLC rất nhiều...
Sau khi toàn thể Tiểu Ðoàn 4 TQLC đã xuống bãi đáp và tiến lên như vũ bão, thì tôi hướng dẫn chiếc số 2 TTVT tiếp tục yểm trợ quân bạn. Qua vô tuyến, các anh em TQLC cho chúng tôi biết quân Cộng Sản leo lên những cây xoài trong thành phố, lên hồ nước cao (chateau d'eau) (toàn những điểm có cao độ) để bắn sẻ các chiến binh TQLC từ ruộng khô và trống tiến vào thành phố.
Ðược chỉ điểm rõ rệt như vậy, hai TTVT của tôi và Lễ đã bắn vào những mục tiêu quân Cộng Sản này và họ đã chết rớt từ trên cây xuống như sung rụng... Quân bạn thì reo mừng khi thấy như vậy nhưng mấy anh lính Bắc Việt thì không biết nghĩ sao??? Quân CS bắt đầu cảm thấy thất trận trước sự tấn công anh dũng của TQLC, họ từ từ rút ra khỏi thành phố theo quốc lộ và kéo theo những người dân Miên trong thành phố để làm bia đỡ đạn cho họ.
Tôi và Lễ lại tiếp tục bay theo truy nã và bắn chết những anh chàng VC còn ngơ ngác không ngờ quân đội chúng ta đã được trang bị đầy đủ hỏa lực như vậy. Quân VC chết và để lại xác rất nhiều trước hỏa lực của TTVT... Trong khi hăng say yểm trợ thì chiếc TTVT số 2 của Lễ đã bị trúng đạn, Lễ bị thương nhẹ nhưng anh xạ thủ phi hành Hạ Sĩ Hứa Văn Bá đã bị trúng đạn hư bàn tay. Tôi liền hướng dẫn Thiếu Tá Lễ bay ra khu trống và bay về Neak Leung. Chiếc TTVT số 3 của Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải lên thay thế. Chúng tôi lại tiếp tục yểm trợ quân bạn dưới đất và truy lùng những chàng VC đang chạy trốn rút lui khỏi thành phố. Ngay chiều hôm đó, thành phố Prey Veng đã được lấy lại từ tay quân CSBV nhờ 2 Tiểu Ðoàn TQLC và Phi Ðoàn Thần Ðiểu 217.
Cũng cần nói thêm là một tài liệu của Mỹ cho biết Prey Veng được quân Nam Vang phối hợp với quân Mỹ tái chiếm ngày 15 tháng 7. Tài liệu này không đúng sự thật, vì trận này chỉ có quân VNCH tham dự và hợp tác với quân của Nam Vang tái chiếm Prey Veng ngày 28 tháng 5, 1970.
Cả hợp đoàn trực thăng vận của Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu được lệnh bay trở về lại phi trường Bình Thủy để chuẩn bị cho một ngày hành quân kế tiếp. Riêng tôi, trên đường bay, tôi lại có thời giờ suy nghĩ trận chiến vừa qua. Nhìn thấy hỏa lực của những chiếc trực thăng võ trang của Phi Ðoàn đã tác xạ hùng dũng và yểm trợ quân bạn kết quả vô cùng nên tôi bắt đầu nghĩ phải đặt tên cho Phi Ðội TTVT của Phi Ðoàn là Hỏa Ðiểu, người con hùng dũng của đơn vị Mẹ là Thần Ðiểu. Phi đội TTVT “Hỏa Ðiểu” đã tiêu diệt bao nhiêu quân Cộng Sản ở miền Tây nước Việt và làm vẻ vang cho KLVNCH.
Sau chiến thắng này, Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh đã gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu tuyên dương công trạng của Phi Ðoàn Thần Ðiểu trước quân đội. Riêng tôi một năm sau đó đã được chọn làm Chiến Sĩ Xuất Sắc Nhất của Không Quân trong mặt trận Kampuchea và được tưởng thưởng đi Ðài Loan một tuần để thăm viếng và xả hơi.
Tôi đã rất hãnh diện được đóng góp vào cho Quân Lực VNCH với Phi Ðoàn Thần Ðiểu 217 chống lại sự xâm lăng của quân CSBV. Rất tiếc là khi “Ðồng Minh Tháo Chạy” thì quân lực của chúng ta bị trói tay lại vì không còn đủ súng đạn để chiến đấu. Tôi vẫn xem chuyện mất nước của chúng ta là một quốc nạn vì số Trời đã định.
KQ Trương Thành Tâm
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 1091
Con Bướm Đen
Bút ký của ông Nguyễn Quang Thành
Nguyên Giáo sư trường nữ trung học Đà Nẵng
---oo0oo---
Lời người viết:
Bài viết này là nén nhang thắp lên để tưởng nhớ anh tôi là Nguyễn quang Khóa, nguyên Trung tá phi công phản lực, Trưởng phòng kế hoạch Không đoàn 41 Chiến thuật, xuất thân khóa 61A SVSQKQ đã chết tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam kỳ, tỉnh Quảng Nam. - Chân thành cảm ơn anh Phan Trừng,và anh Dan Hoài Bửu, nguyên Trung tá phi công phản lực, bạn học cùng khóa của anh tôi, đã giúp tôi hoàn thành bút ký này.- Quý vị nào là bằng hữu, chiến hữu hoặc cựu tù binh biết về cái chết và mộ phần của anh tôi, xin liên lạc với tôi qua địa chỉ email:

Gia đình tôi ít anh em. Không phải do ba mẹ tôi hiếm muộn mà do thời gian ba tôi ở Pháp khá lâu. Hơn mười năm từ khi mẹ tôi sinh ra anh, hai ông bà mới gặp lại nhau, nên tôi kém anh tôi đúng một con giáp.Mặc dù khoảng cách tuổi tác sai biệt khá nhiều, nhưng anh em tôi đều có điểm tương đồng là yêu thích toán học và ôm mộng viễn du. Vì thế chúng tôi đều học ban khoa học Toán và tình nguyện gia nhập quân đội sau khi đậu tú tài toàn phần:
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai, nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Mùa hè 1960, anh tôi nhập học khóa 61A SVSQKQ. Khoảng tháng sau lại có giấy báo nhập học ban Toán của trường Đại học sư phạm gửi về nhà, ba tôi mở ra, đọc đi đọc lại nhiều lần, mặt đăm chiêu, ra chiều nghĩ ngợi nhiều lắm.
Mười năm sau, tôi cũng vừa thi vào đại học sư phạm, đồng thời làm đơn xin gia nhập trường Võ bị Đà Lạt để được sống và học tập trong khung cảnh hào hùng và thơ mộng của vùng đất cao nguyên, mà tôi đã bị quyến rủ trước đây qua bài Ai Lên Xứ Hoa Đào của nhạc sĩ Hoàng Nguyên và một số hình ảnh của người sinh viên sĩ quan Đà Lạt trong đoạn phim giới thiệu về trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đã chiếu tại trường vào dịp cuối năm lớp Đệ nhất (lớp 12) tại trường Quốc học, Huế.
Tôi đã trúng tuyển vào trường đại học sư phạm nhưng không thấy giấy báo nhập học trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt gửi về nhà. Vì thế, sau này tôi đã trở thành một giáo sư khoa học tại một trường nữ trung học đúng theo ý nguyện của ba mẹ tôi, nhưng tôi không bao giờ quên được hình ảnh hào hùng và lịch lãm của người trai thế hệ mà mình mơ ước.
Sau khi học đại học sư phạm được vài tháng, nhân một buổi ăn tối của gia đình, ba tôi mới ôn tồn cho tôi biết là ông đã nhận được giấy báo của trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt gửi về nhà, nhưng ông không cho tôi biết, vì anh tôi đã là pilote de guerre vào sinh ra tử trên bốn vùng chiến thuật (ba tôi có thói quen nói nửa Việt nửa Pháp, như ông thường viết các toa thuốc cho bệnh nhân).
Anh tôi du học tại Hoa kỳ năm 1961. Gia đình tôi đều đặn nhận được thư từ và hình ảnh của anh tôi, chụp tại các trường huấn luyện phi công, luôn luôn kèm bên chiếc phi cơ đã bay, hoặc các hình ảnh chụp tại các tiểu bang đã đi qua nhân dịp cuối tuần hoặc các dịp lễ lạc. Tôi ước mơ một ngày nào đó mình cũng được như vậy.
Ngoài thư từ gửi cho gia đình, anh tôi còn gửi cho chị M.T., sinh viên trường CSYT, con gái của một người bạn của ba tôi, mà ba tôi đã chấm theo tiêu chuẩn: Công-Dung-Ngôn-Hạnh cho anh tôi, trong lúc hai người chưa một lần gặp gỡ.
Nhiều lần tôi cảm thấy xót xa cho chị, khi chị đưa lá thư anh gửi cho tôi xem với hai câu thơ mở đầu:
Người ơi, gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không
Năm 1963 anh về nước. Hai câu thơ trên trích trong tập truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà anh đã lồng vào trong bức thư, gửi cho chị M.T. như một định mệnh đã an bài.
Ba tôi đã phải nói lời xin lỗi với cha mẹ chị, vì việc đi hỏi chị là do ba tôi đơn phương quyết định.
Một lần nữa, ba tôi lại đăm chiêu, suy nghĩ nhiều lắm.
Dĩ nhiên, anh tôi từ đó không về nhà, cứ ở mãi Sài gòn. Lúc đầu, anh ở Liên Phi đoàn 33 Vận tải tại căn cứ Tân sơn nhất, sau đó chuyển qua Phi đoàn 518 Khu trục tại căn cứ Biên hòa.
Thỉnh thoảng anh gửi thư cho ba mẹ tôi nói rằng anh quen một người con gái gốc Bắc, con của một sĩ quan cấp tá, bạn của cậu tôi. Chị là sinh viên trường Đại học Luật khoa Sài gòn và cũng là bạn cùng học tại ĐHLK với anh tôi ( sau khi ở Hoa kỳ về, anh lại ghi danh học ĐHLK). Chị có tên rất ấn tượng: Phạm Chất L.
Thư từ giữa hai anh chị chất đầy như núi. Một lần vào cư xá thăm anh, tôi tò mò đọc được một lá thư của chị gửi cho anh, với bài thơ mà tôi chỉ nhớ được hai câu:
Đời phi công có mấy người chung thủy
Mỗi đường bay thay một cánh hoa yêu
Hay một lá thư khác:
Oublie, c’est le nom d’une fleur
N’oubliez pas, c’est le vœux de mon cœur
(Xin người giữ lấy hoa quên
Và đừng quên nhé lời nguyền trong tâm)
Chị cũng không quên ép vào những trang thư tình màu tím một con bướm đen đậu trên nhánh hoa Forget Me Not. Điều này làm tôi liên tưởng đến sự trùng hợp màu sắc một cách ngẫu nhiên: Bộ áo bay của anh tôi màu đen với khăn quàng cổ màu tím, tôi thường thấy anh tôi mặc trong những phi vụ đặc biệt.
Đời phi công thật hào hùng và bay bướm. Trong tủ sách anh tôi để lại cho tôi học, tôi thích thú khi đọc cuốn Đời phi công của Toàn Phong, Chuyến bay đêm (Vol de nuit), Cõi người ta (Terre des hommes) của nhà văn phi công Saint Exupery. Càng thích thú hơn, khi biết Toàn Phong là bút hiệu của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, tác giả cuốn Hình học Không gian không thua kém gì các cuốn Géométrie dans L’espace của Le Bosse hoặc của Caronner mà anh em tôi xem như là quyển Tự điển Toán Hình học Không gian.
Suy cho cùng, toán học và văn chương tuy thuộc hai phạm trù khác nhau nhưng luôn luôn có sự tương quan logic. Toán học tuy khô khan, nhưng nhà toán học lại là người rất nhạy cảm. Sự nhạy cảm là khởi đầu cho bao đề tài lãng mạn trong văn chương.
Thời gian dần trôi, tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, anh tôi được điều động ra căn cứ Đà Nẵng. Ác liệt nhất là trận đánh Tết Mậu Thân 1968 và sau đó là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cố đô Huế dịp Tết Mậu Thân, chiếc Khu trục cơ Skyraider AD6 do anh tôi lái bị bắn với chi chít lỗ đạn phòng không của Bắc quân, đặc biệt là bánh đáp bị bắn gãy nhưng anh tôi đã đáp bụng an toàn.
Phi vụ oanh tạc, giải tỏa cổ thành Quảng trị, chiếc phản lực cơ A 37 của anh tôi bị bắn rơi trên bầu trời cổ thành, anh đã nhảy dù thoát hiểm và may mắn được một trực thăng cứu thoát, đưa về căn cứ Đà nẵng an toàn.
Năm đó, tôi đang học năm thứ hai. Vừa ra khỏi giảng đường, một con bướm đen to bằng bàn tay, bay lởn vởn và đậu trên vai tôi vài tích tắc rồi biến mất. Sau đó tôi gặp một viên thiếu úy phi công trực thăng đến trường tìm một người bạn, vô tình kể lại chuyên anh ta vừa cứu thoát một thiếu tá phi công phản lực A 37 bị bắn rơi tại Quảng Trị, tôi nghe chuyện và hỏi tên người phi công lâm nạn, thì ra người phi công phản lực đó chính là anh tôi.
Sau này, trong tập san Lý Tưởng của binh chủng Không quân có đăng bài Cánh Thiên Thần Trên Bầu Trời Cổ Thành Quảng Trị của ký giả L.R.viết về anh lúc cánh dù bung ra từ chiếc phản lực cơ lâm nạn trên vùng trời lửa đạn.
Bạn bè cùng khóa 61 A SVSQKQ và các khóa sau đã có nhiều người ra đi không bao giờ trở lại như tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch không hẹn ngày về. Chiến tranh đồng nghĩa với mất mác, đau thương, cô đơn và giá lạnh:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
...
...
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
Biến cố khó quên đối với gia đình tôi xảy ra vào ngày 29/3/1975 sau khi tôi nhận bằng tốt nghiệp và sự vụ lệnh bổ nhiệm làm giáo sư tại trường trung học được vài tháng. Đà Nẵng đang trong cơn hấp hối. Tình hình chiến sự vô cùng căng thẳng.
Anh tôi một mình lái xe jeep ra nhà, hối hả chở cha mẹ tôi vào phi trường Đà Nẵng, còn tôi không liên lạc được phải chạy một mình ra cảng Tiên Sa mong thoát thân bằng đường biển.
Vừa đến cảng thì bị pháo kích dồn dập, tôi chỉ kịp nằm bẹp xuống một mương nước, và chiếc vali trong tay tôi rơi lúc nào cũng không hề hay biết. Một quả đạn pháo kích rơi ngay trước mặt tôi chừng mươi thước, đúng lúc một chiếc xe jeep trờ tới, mọi người trên xe bị hất tung lên và trở thành tro bụi trong phút chốc.
Quá hoảng sợ, tôi chạy lùi theo một số người tìm đường ra biển Sơn Trà.
Lúc này có một vài chiếc phi cơ bay vút qua, hướng ra biển Đông. Tôi ngửa mặt lên trời, ước gì ở trên cao có anh tôi thấy để cứu vớt tôi. Thế nhưng, tất cả đều đã bay xa cho đến khi chỉ còn là vài chấm đen trên nền trời ảm đạm.
Lúc này tôi đã ra đến bờ biển Sơn trà, gặp được một chiếc tàu đánh cá đang đậu cách bờ chừng vài trăm thước. Mừng quá, tôi cởi vội quần áo và lao nhanh xuống biển. Lúc tay tôi chạm vào mạn tàu cũng là lúc trên bờ xuất hiện vài người có vũ khí cầm tay, ra hiệu cho tàu vào bờ. Một số người trên tàu vội vã kéo tôi lên đồng thời tàu nổ máy chạy thẳng ra khơi.
Nhóm người võ trang nhắm thẳng vào tàu bắn liên tục nhưng chỉ làm bị thương một người trên tàu, còn lại đều vô sự.
Một tiếng sau, tàu này được tàu hải quân Việt nam Cộng hòa cứu vớt và chuyển lên một chiến hạm của hải quân Hoa kỳ.
Trên boong tàu, tôi đưa mắt nhìn vào phía đất liền. Mịt mù trùng khơi. Biển vây kín biển cả. Tiếng sóng vỗ ào ào. Tàu lắc lư chao đảo. Tôi ngửa mặt lên trời, tự nhủ: Có phải đây là giờ phút vĩnh biệt của anh em tôi? Đột nhiên bầu trời trở nên u ám, vài hạt mưa đã rơi nhanh xuống sàn tàu.
Sau này, qua một người quen cho biết: khuya 29/3/1975 anh tôi đã lên và lái một chiếc phản lực cơ A 37 ra phi đạo nhưng không thể cất cánh được vì đã bị hư hại. Vì thế anh tôi đã trở thành tù binh tại trại tù số 3 Kỳ Sơn, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hơn một năm sau, trong lúc gia đình đang ăn cơm trưa, bỗng nhiên có một con bướm đen to bằng bàn tay, bay vòng vòng trong phòng và đậu trên vai từng người rồi cuối cùng đậu ngay chính giữa bàn thờ gia đình. Năm phút sau, nhận được tin báo là anh tôi đã chết, nằm trong một bụi cây bên ngoài trại tù chừng 800 mét. Mọi người đều sửng sốt, bàng hoàng nhưng không dám bật thành tiếng khóc.
Đến khi bình tĩnh lại, nhìn về phía bàn thờ, con bướm đen cũng đã vỗ cánh bay ra khỏi nhà.
Đêm hôm đó, tôi nằm mơ thấy anh tôi mặc bộ áo bay màu đen với khăn quàng cổ màu tím, đang lái chiếc xe jeep về nhà nhưng máu đã đẫm ướt phi bào.
Sáng dậy, nhớ lại giấc mơ đêm qua, tôi cảm thấy một vị đắng, chua cay tràn ngập cổ họng. Tôi nghe như đâu đây phảng phất tiếng hát của một nữ ca sĩ nổi tiếng một thời:
Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời
Mẹ yêu noi gương người trước đặt lời
...
...
Người phi công giữ khung trời
Vẫn còn mang số phận con người
Bất giác hai dòng nước mắt tuôn trào lúc nào không hay.
Hai mươi năm sau, một mình tôi trở lại vùng rừng thiêng nước độc, nơi anh tôi đã bị lưu đày, khổ nhục. Trại tù giờ đây chỉ là một vùng lau lách đầy cỏ dại, rất khó xác định.
Nghĩ mình đã vượt núi, băng rừng, lội suối trong mùa nước lũ, chẳng lẽ bó tay trở về.
Trời đã nhá nhem tối, tôi thì thầm khấn nguyện anh tôi. Bỗng từ đâu một con bướm đen to bằng bàn tay bay đến trước mặt tôi, như có ý dẫn đường. Tôi tiếp tục khấn nguyện. Con bướm đen bay vòng vòng, tôi chạy theo và bị té sấp vào một bờ đất.
Sau phút hoảng hốt, tôi lồm cồm bò dậy và nhận ra một số nấm mộ nho nhỏ nằm khuất dưới đám cỏ dại. Tất cả gồm 12 nấm mộ vô chủ. Người dân địa phương cho biết đó là mộ của tù binh tại trại 3 Kỳ sơn. Tôi vội vàng hốt 12 nắm đất bỏ vào 12 bao nilon nhỏ và đánh dấu theo số thứ tự, rồi đến nhà dân xin ngủ tạm qua đêm.
Sáng hôm sau về lại Tam Kỳ, tìm đến nhà một thầy ngoại cảm. Thầy cho biết anh tôi nằm ở ngôi mộ số 3.
Tuy nhiên tôi vẫn mong trong tương lai, khi bài viết này của tôi được nhiều người biết đến, tôi có thể có nhiều tin tức hữu ích và cụ thể để xác định chính xác mộ phần của anh tôi.
Nguyễn Quang Thành
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 1105
Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào
Kingbee Bùi Tá Khánh
---oo0oo---

Chuyện về cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn HCM đã được nhiều người viết ra. Đầu tiên là nhà văn Phạm Huấn với quyển "Trận Hạ Lào năm 1971", rồi nhà văn nhảy Dù Lê Đình Châu, đại uý đại đội trưởng đại đội công vụ nằm vòng đai bảo vệ cho Lữ đoàn 3 nhảy Dù trên đồi 31 cũng ra mắt quyển "Đôi mắt người Tù Binh", và anh Nguyễn Văn Long, thiếu uý sĩ quan phụ tá ban 2 Lữ Đoàn 3 nhảy Dù vẫn thường xuyên viết về Hạ Lào cho Đặc San Nhảy Dù ở Úc Châu. Ở đây, tôi chỉ ghi lại câu chuyện như là một mẩu hồi ức dưới mắt nhìn của một người lính Không Quân.
Tôi là một hoa tiêu phục vụ trong phi đoàn 219, thuộc Không Đoàn 51, Sư Đoàn I KQ trú đóng tại Đà Nẵng. Phi đoàn 219 là hậu thân của biệt đoàn 83 với nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh thầm lặng trong bóng tối nhằm gây rối, phá hoại hậu phương của địch. Vì thế tất cả phi cơ của phi đoàn 219 chỉ sơn toàn bệt màu đen và xanh lá cây xẫm bên trên phần bụng trắng và không mang phù hiệu hay cờ gì cả ngoài số serial number mà thôi.

Là một phi đoàn chỉ thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài lãnh thổ và ngoài những cuộc hành quân bình thường, nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nằm trong kế hoạch được mệnh danh là Việt hoá chiến tranh, một cuộc hành quân quan trọng lần đầu tiên hoàn toàn do QLVNCH đảm nhiệm với sự yểm trợ tối thiểu của không lực Hoa Kỳ trong những ngày đầu với những loại trực thăng khổng lồ chuyên chở những xe cơ giới hạng nặng như xe ủi đất, lô cốt tiền chế, đại pháo 105 và 155 ly để QLVNCH dọn bãi thiết lập những căn cứ hoả lực đầu cầu trên đất Lào. Vì thế nên Quân Đoàn I đã phải trưng dụng tất cả những đơn vị KQ trực thuộc Sư Đoàn I KQ trong đó có phi đoàn 219.
Như vậy phi đoàn chúng tôi, ngoài những phi vụ đặc biệt thường lệ, lại phải đảm nhiệm thêm việc yểm trợ cho Sư Đoàn Dù, một trong 3 lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Mỗi ngày phi đoàn 219 tăng phái một phi đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh Bộ chỉ huy tiền phương Sư Đoàn Dù. Từ đây chúng tôi xuất phát những phi vụ tiếp tế lương thực, đạn dược cho các căn cứ hoả lực 29, 30 , 31 và các đơn vị hành quân lục soát bên ngoài căn cứ. Những phi vụ này thường là rất "hot", nhưng "hot" nhất vẫn là những phi vụ tải thương cho binh sĩ nhảy Dù khi có đụng độ với quân cộng sản Bắc Việt. Và chuyện này xảy ra như cơm bữa hàng ngày nên chúng tôi coi như pha. Chúng tôi cứ luân phiên nhau mỗi phi đội trực chiến cho Sư Đoàn Dù 4 ngày rồi trở về Đà Nẵng tiếp tục những phi vụ thường nhật.
Hôm nay đến phiên trực của chúng tôi. Phi đội gồm có 2 phi cơ do anh Chung tử Bửu lead, tôi copilot và Nguyễn văn Em là mê vô, chiếc thứ hai tôi chỉ nhớ hoa tiêu chánh là anh Yên. Chúng tôi vào phi đoàn nhận lệnh vào lúc 8 giờ sáng rồi chia tay nhau về nhà sửa soạn hành trang, hẹn gặp nhau lúc 10 giờ ngoài phi đạo 219.
Đúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Đông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương SĐ Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và mêvô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel.
Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo một tiểu đội Tác chiến Điện tử Dù cùng với 18 chiếc máy "sensor" vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước phi hành đoàn anh Nguyễn thanh Giang về. 15 phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp tiểu đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12ly7 và lần đầu tiên còn nghe có cả SA7 nữa.
Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của phi đoàn 213 do trung uý Thục bay trước mở đường.
Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang
đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Đoàn 3 Dù. Phi hành đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, mêvô Trần hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Đông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu qủa. Gần đến LZ anh Bửu đổi hướng lấy cấp Đông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của trung uý Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt.
Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, mêvô Em la lên khẩn cấp trong máy "Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy".
Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là
đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ đại uý An ở Bù Đốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản
xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của đại đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay
rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè thiếu uý, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971.
Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng
cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi
với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn.
Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến ban chỉ huy Lữ Đoàn 3 Dù. Gặp lại phi hành đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Đoàn 3. Đầu tiên là đại tá Thọ lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3, thiếu tá Đức trưởng ban 3, dại uý Trụ phụ tá ban 3, đại uý Nghĩa sĩ quan liên lạc KQ, trung uý Chính sĩ quan Không trợ Dù, thiếu uý Long phụ tá ban 2. Về phía pháo binh thì có trung tá Châu tiểu đoàn trưởng và đại uý Thương trưởng ban 3 thuộc tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Đại tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "ông" nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như máy! Quả các anh ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật.

Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Đoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khóa 20 trường Võ Bị Đà Lạt. Anh cũng là anh ruột của trung uý Nguyễn hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong phi đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng.
Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến KQVN và HK không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù.
Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, chúng tôi nhận được lệnh và khởi sự di chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa đích thân phi đoàn với 3 chiếc H34 sẽ vào tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 phi hành đoàn ra. Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Đến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận "tiền pháo" dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ!".
Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả pháo đội trưởng Nguyễn văn Đương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Chúng tôi vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm.
Về phía KQ, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các ra đầu hàng. Đến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần mêvô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn Em gục chết ở bên đường.
Thế là 219 ghi thêm vào quân sử của mình một thiệt hại 2 phi hành đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 phi hành đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không?
Viết để nhớ đến tất cả những chiến sĩ anh hùng đã thành danh hay vô danh, vẫn còn sống hay đã hy sinh cho quê hương đất nước. Sau 33 năm ít ra tên tuổi
các anh vẫn còn được nhắc đến một lần.
Kingbee Bùi Tá Khánh
- Details
- Category: Truyện VNAF
- Hits: 1315
