BUỒN VUI ĐỜI LÍNH... VĂN PHÒNG (phần 4)
Những người muôn năm cũ…

Hồi ký
Nguyễn Hữu Thiện

(tiếp theo và hết)

Bông hồng tạ ơn

Trong lời phi lộ của Phần 3, “Một Ngày Không Quân - Một Đời Không Quân”, tôi viết:
Vì thế, Phần 3 của thiên hồi ký này xin được xem như nén hương lòng tưởng nhớ những vị đã vĩnh viễn ra đi, một bông hồng gửi tới những vị còn tại thế thay cho lời cám ơn về những ưu ái chiếu cố dành cho một tay sĩ quan CTCT Không Quân thuộc hàng hậu bối nhưng không bao giờ quên màu cờ sắc áo quân chủng.

Nhưng rồi mãi tới cuối Phần 4 mới thắp xong nén hương lòng. Hôm nay, xin gửi bông hồng tạ ơn.

Vị niên trưởng đầu tiên tôi nhắc tới là cựu Đại tá Trần Phước, nguyên Chỉ huy phó TTHLKQ Nha Trang, hiện cư ngụ tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, được xem là một trong hai vị niên trưởng Không Quân (tên tuổi) đang sống thọ nhất; vị kia là cựu Đại tá Đinh Văn Chung, nguyên Tham mưu phó Chiến Tranh Chính Trị BTL/KQ, người mà chúng tôi không được tin tức gì từ mấy năm qua.

Trong email cuối cùng gửi cho tôi nào năm ngoái, NT Trần Phước cho biết ông đã 96 tuổi.

Cũng xin có đôi hàng về “email cuối cùng” này. Chuyện hơi dài dòng!

Nguyên vào khoảng tháng 3/2025, khi nhắc tới cựu Đại tá Vũ Thượng Văn (VTV) trong hồi ký, tôi có gửi một email cho cựu Trung tá Trần Mạnh Khôi, nguyên Phi đoàn trưởng 548 Ó Đen, để hỏi tin tức thì được anh cho biết ông VTV sống ở Austin, Texas; trước đây ông có trao đổi thư từ thăm hỏi với cựu Đại tá Bồ Đại Kỳ ở California, nhưng cách đây hơn 2 năm thì bặt tin, ông Bồ Đại Kỳ điện thoại cho con gái ông VTV cũng không được trả lời (ông Bồ Đại Kỳ là đàn em ông VTV ở Salon de Provence).

Khóa sinh Salon de Provence, từ trái, các NT Từ Bộ Cam, Vũ Thượng Văn, Nguyễn Kim Khánh (?)


Biết ông VTV sống ở Texas, tới đầu tháng 4/2025 tôi email cho NT Trần Phước trước là để hỏi thăm sức khỏe sau là hỏi tin tức về ông VTV, thì được NT trả lời ông cũng chỉ biết ông VTV ở Austin, Texas, nhưng từ mấy năm qua không nghe tin tức gì. Trong email, NT Trần Phước cho tôi biết hiện nay sức khỏe của Mệ ngày càng suy yếu…

Tới tháng 7, tôi được một KQ ở Hoa Kỳ báo tin NT VTV mới qua đời nhưng không cho biết thêm chi tiết. Tôi liền nhờ anh Trần Mạnh Khôi hỏi cựu Đại tá Bồ Đại Kỳ thì được biết con gái ông VTV đã điện thoại báo tin cha cô đã qua đời ngày 25 tháng 6 năm 2025, hưởng thọ 96 tuổi.

Biết rằng sớm muộn anh em KQ ở Texas cũng có người thông báo tin buồn này cho NT Trần Phước, tôi cho rằng mình không cần làm công việc không mấy hứng thú này, e Mệ sẽ… xuống tinh thần chăng?!

Tới giữa tháng 11/2025, sau khi Hội KQ Houston tổ chức “Đại Hội Không Quân Thế Giới 2025”, tôi đọc bài tường thuật (không nhớ rõ nguồn) thì thấy hình NT Trần Phước tới tham dự, mặc đại lễ trắng và ngồi xe lăn.

Ngày 15 tháng 12, theo thông lệ tôi gửi email hỏi thăm NT và chúc Giáng Sinh nhưng không được trả lời.

Vì thế tôi mới viết email NT Trần Phước gửi cho tôi hồi tháng 4/2025 là “email cuối cùng”.

Từ đó tôi không dám làm phiền NT nữa, chỉ biết cầu mong “Mệ” được mọi sự an lành, tốt đẹp trong những năm tháng cuối đời.

* * *

Tiếp theo, xin lần lượt viết về “ân tình” với các vị niên trưởng, các đàn anh tôi được quen biết và được giúp đỡ tài liệu trong những năm “hậu Quân Sử Không Quân”, tức là từ sau năm 2005 tới nay.

Bản tính tôi rất lười, việc tư cũng như việc công không bao giờ tình nguyện. Vì thế sau khi cuốn QSKQ được phát hành vào năm 2005, tôi lại an phận thủ thường với vai trò “thợ viết” của đặc san Lý Tưởng Úc Châu, mỗi năm bốn bài cho hai số báo. Chấm hết!
(Nói cho ngay, lúc đó tôi vừa đi làm full-time vừa cộng tác với một tờ tuần báo cho nên cũng không còn nhiều thì giờ rảnh rỗi)

Vì thế tôi không có nhu cầu, cơ hội quen biết thêm các niên trưởng, chiến hữu KQ, và cũng không cần học hỏi về vi tính vốn là lĩnh vực tôi… sợ nhất.

Cho tới đầu năm 2012, khi tôi vụt “nổi tiếng” với bài “Thái Dương NGUYỄN ĐÌNH XANH - Một người như mọi người” do tôi phỏng dịch.

Nguyên vào cuối năm 2011, KQ Vũ Văn Bảo (cựu hoa tiêu PĐ237), ”chủ báo” Lý Tưởng Úc Châu, lần mò vào một website của các cựu hoa tiêu trực thăng Mỹ tham chiếm tại VN, đọc được bài viết của một vị Đại tá Lục Quân Hoa Kỳ (hồi hưu) ca tụng người bạn tù kiêm ân nhân là một trung úy hoa tiêu khu trục VNCH và chuyển cho tôi.

Đó là ông William S. Reeder, một tác giả nổi tiếng, vào năm 1972 là đại úy phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Camp Holloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku; còn người hoa tiêu khu trục là Trung úy Nguyễn Đình Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật. (Vì ông William S. Reeder viết tên anh Xanh không đầy đủ, lúc ban đầu tôi đã đặt tựa “Trung úy Nguyễn Văn Xanh…”)


Đại tá William S. Reeder


Cho dù trước năm 1975 tôi không hề quen biết anh Xanh, chỉ cần mấy chữ “Pleiku” và “Phi Đoàn 530” (của sếp cũ, Trung tá Lê Bá Định) đủ để tôi bỏ công đọc và nhận ra đây là một câu chuyện cảm động rất đáng được phổ biến rộng rãi.

Kết quả là bài phỏng dịch do tôi đặt tựa Thái Dương NGUYỄN ĐÌNH XANH - Một người như mọi người đăng trên số báo Xuân 2012 của Lý Tưởng Úc Châu.

Không ngờ bài phỏng dịch này lại gây tiếng vang hơn bất cứ bài viết nào của tôi trước đó, được nhiều trang mạng trong cũng như ngoài Không Quân đăng lại, tạo ra một kỷ lục trên website Cánh Thép (không phải Cánh Thép hiện nay); riêng cá nhân tôi đã nhận được sự tán thưởng từ nhiều vị đàn anh và vô số lời “bốc thơm” của bạn bè. (Phụ Lục 1)

Ít lâu sau, nhà báo/nhà văn Thanh Thương Hoàng, Tổng Thư ký nhật báo Chính Luận ở Sài Gòn trước năm 1975, đã tìm cách liên lạc với tôi để xin phép đăng bài này trong một tuyển tập văn học nghệ thuật của người Việt hải ngoại do ông thực hiện.

Người được ông Thanh Thương Hoàng nhờ làm trung gian liên lạc lại là một đàn anh của tôi ở trường Luật, một luật sư tên tuổi, giao kết rộng; ông ra sức xưng tụng gã đàn em khiến tôi càng thêm “nổi tiếng”!

Lời khen tặng của những người ngoài Không Quân ấy đã khiến tôi càng thêm tự hào, không phải tự hào về bản thân mà về quân chủng của mình được thể hiện qua ngòi bút – như “thầy” Lê Bá Định đã khai tâm cho tôi khi tập tễnh cầm bút ở Pleiku năm xưa.

* * *

Nhưng như đã viết, tôi vốn rất lười, nay muốn tiếp tục viết về đề tài Không Quân thì lại phải… tốn công sưu tầm tài liệu. Suy đi nghĩ lại, tôi thấy đỡ tốn công nhất là khai thác nguồn tài liệu sẵn có trong tay.

Đó là hàng chục cuốn sách, hàng trăm tài liệu các nơi gửi về trong thời gian biên soạn quyển QSKQ, mà đáng nói nhất là những hồ sơ liên quan tới Không Quân VNCH được chính phủ Mỹ giải mật sau 30 năm, do nhà sưu tầm Đinh Trọng Vũ (con trai cố Trung tá KQ Đinh Trọng Mùi) cung cấp.

Rồi nhận ra rằng cho tới nay mới chỉ có các bài viết về ngành Quan Sát (Võ Ý), Trực Thăng (Đỗ Văn Hiếu) chứ chưa có bài viết về ngành Vận Tải, trong khi tài liệu về ngành này do NT Trần Đình Hòe cung cấp tôi mới khai thác một phần nhỏ trong thời gian biên soạn cuốn QSKQ, tôi quyết định viết một loạt bài về ngành Vận Tải.

Công việc của tôi được sự khích lệ của cựu Trung tá Phạm Văn Cần, nguyên Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 417 Thần Long (vận tải cơ C-7A Caribou), có thời gian làm Hội trưởng Hội Ái Hữu KQ tiểu bang New South Wales kiêm Liên hội trưởng Liên Hội Ái Hữu KQ Úc Châu; và cũng không thể không nhắc tới sự đóng góp của một số đàn anh, chiến hữu trong ngành vận tải, như Nguyễn Quý Chấn ở California, Nguyễn Quế Sơn, Trương Nguyên Thuận ở Texas…

Sau hơn hai năm tham khảo, biên soạn, sửa tới sửa lui, tôi đã hoàn tất loạt bài Ngành Vận Tải trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, gồm các phi đoàn vận tải, không thám và vận tải võ trang, được rút ngắn để đăng trên đặc san Lý Tưởng Úc Châu số kỷ niệm Ngày Không Lực 1 tháng 7 năm 2015, và đăng đầy đủ trên chuyên mục Quân Sử Không Quân của Hội Quán Phi Dũng. Mấy tháng sau, do yêu cầu của KQ Nguyễn Công Minh, Chủ tịch Hội Cựu Quân QLVNCH tiểu bang Victoria, tôi đã trích dịch phần viết về Biệt Đội 615 trong loạt bài thành bài viết ngắn B-57 Canberra in the Republic of Vietnam Air Force” để làm tài liệu cung cấp cho Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam của Quân Lực Hoàng Gia Úc-đại-lợi.

Tài liệu này đã khiến các giới chức Không Quân Úc rất ngạc nhiên, thích thú, bởi vì theo sự hiểu biết của họ, trước đây trong cuộc chiến Việt Nam chỉ có B-57 của Úc (Phi Đoàn 2 Oanh Tạc) và của Mỹ hoạt động tại miền nam Việt Nam mà thôi! (Phụ Lục 2)

* * *

Trước việc bài viết về ngành vận tải được đông đảo độc giả tìm đọc (Top 10 trên HQPD), nhận thấy chưa có bài viết về ngành khu trục, tôi chơi bạo tới luôn.

Viết là “chơi bạo” bởi trước đó đã có nhiều vị niên trưởng, đàn anh trong ngành khu trục viết về một số phi đoàn và nhân vật nổi tiếng trong ngành này, như Nguyễn Quang Tri, Bồ Đại Kỳ, Trần Bá Hợi, Dan Hoài Bửu, Nguyễn Thiên Ân, Trần Ngọc Hà…, viết không ra gì tôi sẽ bị mang tiếng múa rìu qua mắt thợ.

Biên Hòa 1968 (?), từ trái: Thiếu tá Ed Mentzer, các Đại úy Phạm Đăng Cường,
Nguyễn Văn Huynh, Trần Thanh Long, Dan Hoài Bửu, Hoàng Mạnh Cường


Tuy nhiên suy đi nghĩ lại, tôi nhận thấy vẫn nên có một bài viết về ngành khu trục nói chung, trong đó có nhắc tới tất cả 19 phi đoàn, cánh quạt lẫn phản lực, để vinh danh một tập thể phi hành trong KLVNCH đã góp nhiều công lao, hy sinh bao xương máu trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng Tự Do tại miền nam Việt Nam.

Công việc của tôi là dựa vào các bài viết của các vị niên trưởng, đàn anh nói trên, phối hợp với những nguồn tài liệu tham khảo, đóng góp của bạn bè để đúc kết thành một bài về ngành khu trục một cách tổng quát, từ bước đầu với Đệ Nhất Phi Đoàn Khu Trục & Trinh Sát tới lúc phát triển tối đa với 19 phi đoàn, gồm 3 phi đoàn khu trục cánh quạt A-1, 6 phi đoàn phản lực siêu thanh F-5, và 10 phi đoàn phản lực A-37.

Bài Ngành Khu Trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa của tôi được đăng trên đặc san Lý Tưởng Úc Châu vào đầu tháng 1/2017.

Dĩ nhiên, là một quân nhân không phi hành dù cố gắng tới đâu, tôi cũng không tránh khỏi những thiếu sót trong công việc mà lúc đầu đàn anh Võ Ý gọi là “đội đá vá trời” khi tôi bày tỏ với ông về công việc sắp thực hiện.

Vì thế, sau khi bài viết được phổ biến tôi đã nhận được – trực tiếp hoặc gián tiếp – nhiều ý kiến bổ túc, sửa sai, trong đó có những chi tiết, sự việc tôi không thể kiểm chứng.

Quan niệm một khi viết sử phải chính xác tối đa (dù không cầu toàn), cho nên tôi đã cầu cứu đàn anh Võ Ý, nhờ anh giới thiệu với các vị đàn anh trong ngành khu trục để xin được giúp đỡ.

Từ đó tôi mới có cơ hội liên lạc trực tiếp với các đàn anh Trần Bá Hợi (cựu Thiếu tá, Phi Đoàn 516, Biệt Đoàn 83), Trần Mạnh Khôi (cựu Trung tá, Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 548 Ó Đen), Lê Như Hoàn (cựu Trung tá, Trưởng Khối Đặc Trách Khu Trục BTL/KQ); rồi anh Lê Như Hoàn lại giới thiệu với anh Dan Hoài Bửu (cựu Trung tá, Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng) và hai cựu nhân viên tại Khối Đặc Trách Khu Trục là cựu Thiếu tá Nguyễn Thiên Ân và Hoàng Văn Hùng.


NT Trần Bá Hợi, ngày còn ở Biệt Đoàn 83
NT Lê Như Hoàn, trước và sau năm 1975

 

Nhờ sự giúp đỡ của các đàn anh nói trên tôi đã có được phiên bản thứ hai của bài Ngành Khu Trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (đăng trên Hội Quán Phi Dũng tháng 3/2017) không chỉ đầy đủ hơn mà còn có một số hiệu đính quan trọng, cho dù không thể xem là hoàn chỉnh cũng được nhiều trang mạng tiếp tay phổ biến, xem đó như nguồn tài liệu đầy đủ, chính xác cho những ai muốn tìm hiểu về ngành khu trục trong Không Lực VNCH.

Cách riêng, tôi xin được đề cao kiến thức về ngành khu trục và “bộ nhớ” của “Phi Hổ” Trần Bá Hợi, “Ó Đen 1” Trần Mạnh Khôi và “Hiệp sĩ mù” Nguyễn Thiên Ân, cùng với kho tài liệu tiếng Anh và hình ảnh của anh Hoàng Văn Hùng.

Anh Trần Bá Hợi, người trước đây đã sốt sắng viết bài Phi Đoàn 2 Khu Trục để cung cấp dữ kiện cho Ban thực hiện QSKQ, tuy đã được biệt phái ngoại ngạch từ ngày mang cấp bậc Thiếu tá, nhưng ký ức của anh từ ngày thành lập Phi Đoàn 2 Khu Trục (tiền thân của 516) Biệt Đoàn 83, cho tới Biệt Đoàn 74 ở Cần Thơ (tiền thân của Không Đoàn 74 Chiến Thuật)… đã nhiều lần cứu tôi khi bị lạc vào “mê hồn trận”: sự hiện hữu và liên quan giữa Biệt Đoàn 83, Phi Đoàn 518, và Phi Đoàn 522 (522 A-1 chứ không phải 522 F-5 sau này).

Tuy là người tương đối lớn tuổi so với các vị đàn anh khác, anh Trần Bá Hợi lại thân với tôi, tự xưng “ông anh Bắc Kỳ già”, thường xuyên điện thoại sang Úc tán dóc, tâm sự…

Về phần anh Trần Mạnh Khôi, tác giả bài Sơ lược về việc thành lập các đơn vị Không Quân, là một người vui tính, cởi mở, khi trao đổi email, message thường gọi tôi bằng “ông” giống như ngang hàng với anh. Anh duy trì liên lạc với nhiều vị niên trưởng ở khắp nơi, cho nên thông qua anh, tin tức buồn vui trong Không Quân tôi cũng biết khá nhiều.


Phan Rang 1973. Trung tá Trần Mạnh Khôi, Phi đoàn trưởng PĐ548 Ó Đen


Anh Nguyễn Thiên Ân (mà mọi người đều gọi là Nguyễn Thiện Ân) - nguyên Sĩ quan Nghiên cứu Kỹ thuật và Chiến thuật tại Khối Đặc Trách Khu Trục - thì trái lại, rất nghiêm túc và hơi… khó tính giống như một ông giáo già (ít ra cũng là trong thời gian tôi mới quen anh).

Nhưng chính sự nghiêm túc, khó tính của anh đã khiến tôi… nên người. Anh khuyên tôi phải hết sức cẩn thận, đắn đo khi viết về đề tài quân sử, không được cường điệu, không nên điểm phấn tô son bởi vì một khi thiếu khách quan thì không thể gọi là “sử”.

Anh đã thẳng thừng gạch bỏ một đoạn trong bài viết của tôi (được viết theo ký ức của một người khác) mà anh cho là phóng đại tới mức vô lý. Lúc ấy tôi làm theo sự hướng dẫn, lời khuyên của anh chỉ vì anh là người trong ngành, sau này nhớ lại tôi mới cảm kích, biết ơn vì vô hình trung anh đã khiến tôi cẩn trọng hơn mỗi khi viết về những gì liên quan tới quân chủng của mình.

Nhưng khi đặt bút viết, anh Nguyễn Thiên Ân lại cho thấy anh là con người tình cảm hơn ai hết. Lấy bài Đôi Dòng Cảm Nghĩ Về NGÀNH KHU TRỤC, ký tên Hiệp Sĩ Mù, làm thí dụ điển hình: hào hùng mà bi tráng, đọc muốn đứt ruột! (Phụ Lục 3)

Bên cạnh đó, anh Nguyễn Thiên Ân còn là người biết rất rõ về tiến trình thành lập các phi đoàn A-37.


Đại úy Nguyễn Thiên Ân và các SVSQKQ tại Hoa Kỳ


Khi đã khá thân, thấy tôi ký tên “Thiên Ân” (tên của thằng con trai) dưới một số bài viết, anh Ân mới kể về việc tên cúng cơm “Nguyễn Thiên Ân” của anh bị mọi người đổi thành “Nguyễn Thiện Ân”!

Tới lúc đó tôi mới biết tên anh là Thiên Ân, còn trước đó tôi đều gọi là Thiện Ân như tất cả mọi người trong Không Quân mà tôi quen biết đã gọi mỗi khi nhắc tới Hiệp Sĩ Mù!

Việc anh lập đi lập lại cái tên “Nguyễn Thiên Ân” trong bài Đôi Dòng Cảm Nghĩ Về NGÀNH KHU TRỤC hình như chẳng có tác dụng gì!

Theo suy nghĩ của tôi, và có lẽ ai cũng phải đồng ý, Thiên Ân và Thiện Ân đều là những cái tên đẹp, mang ý nghĩa tốt lành, nhưng Thiện Ân gợi tưởng tới chốn… thiền môn nhiều hơn là cảnh đời tục lụy (có “ba thứ lăng nhăng nó quấy ta”).

Được nghe anh Ân kể thì tôi viết ra đây chứ cũng chẳng hy vọng mọi người trong Không Quân sẽ trả lại phương danh Nguyễn Thiên Ân cho Hiệp Sĩ Mù!

* * *

Với những kiến thức về Không Quân thu thập được từ các đàn anh và sự phấn khởi trước việc các bài viết của mình được nhiều người đón nhận, qua đầu năm 2019 tôi khởi sự viết bài Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát, kể về bước đầu trong sự nghiệp bay bổng của nhiều niên trưởng, đàn anh tên tuổi trong quân chủng, như Nguyễn Ngọc Loan, Võ Xuân Lành, Nguyễn Văn Lượng, Vũ Thượng Văn, Trần Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Biện, Nguyễn Văn Cử, Nguyễn Văn Vechai…

Trong số nói trên, ông Nguyễn Ngọc Biện là người có công thành lập Phi Đoàn 520, sau đó làm Chỉ huy trưởng Biệt Đội 615 (oanh tạc cơ B-57), rồi tử nạn vào tháng 2/1966 tại phi trường Cù Hanh, Pleiku, khi bị bánh đáp của chiếc B-57 cán lên người.

Ông Nguyễn Văn Cử là người cùng với ông Phạm Phú Quốc oanh tạc dinh Độc Lập năm 1962, sau này trở thành dân biểu.

Còn ông Nguyễn Văn Vechai có lẽ là vị sĩ quan có tên họ độc đáo nhất trong KQVNCH.

Càng thú vị hơn nữa, theo ông Lâm Vĩnh Thế, một nhà thư viện học uy tín, tác giả bài Các Sư Đoàn Không Quân Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thì ông biết một người tên Nguyễn Văn Ve Chai thi đậu Tú Tài 2 cùng năm với ông; khi loa phóng thanh đọc tới tên Nguyễn Văn Ve Chai thì cả ngàn học sinh nam nữ ngồi trong sân trường đã phải cười bò!

Và ông Thế thắc mắc không biết đây có phải vị niên trưởng KQ của Khóa 2 HTQS tôi nhắc tới hay không?

Sau khi đối chiếu khoảng tuổi của hai người và xem lại tên họ của Thiếu tá Nguyễn Văn Vechai trong hồi ký của ông, tôi đã xác định với ông Thế người mà ông biết là một ông “Ve Chai” khác, trẻ hơn ông “Vechai” của Không Quân 8, 9 tuổi, và cách viết tên cũng khác nhau: một người là “Vechai” một người là “Ve Chai”!

Bài Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát của tôi được đăng trên Lý Tưởng Úc Châu số kỷ niệm Ngày Không Lực 1 tháng 7 năm 2019, và Hội Quán Phi Dũng ít lâu sau đó.

* * *

Sau cùng là hai bông hồng tạ ơn dành cho hai vị niên trưởng tôi được quen biết hơi muộn nhưng sau đó lại rất thân.

Điều đáng nói là cả hai vị tôi đều gặp trên… thế giới “ảo”, nơi mà mấy năm trước đó tôi chớ hề dám bén máng tới.

Nguyên tôi rất sợ những gì liên quan tới lãnh vực tin học (IT), trước ngày gia nhập Hội Quán Phi Dũng (2014), máy computer với tôi chỉ là cái máy đánh chữ không hơn không kém, để viết báo và gửi email (tôi cũng mới biết sử dụng email từ khi chuẩn bị thực hiện quyển QSKQ vào năm 2000).

Mãi tới năm 2017, trước “áp lực” của các con tôi mới mở một tài khoản trên Facebook chỉ để xem hình các cháu được gửi riêng cho tôi qua Messenger.

Dần dần tôi nhận ra mặt tốt mặt xấu, những lợi ích cũng như những tai hại của Facebook để tận dụng vào việc giao kết và phục vụ chính nghĩa quốc gia, lý tưởng Tổ Quốc Không Gian. Cho tới khi bị “banned” vĩnh viễn vào đầu năm nay (2026), FB cá nhân của tôi đã được nhiều anh em xem như một “phòng thông tin” bán chính thức của tập thể Không Quân VNCH ở Úc.

Song song, tôi còn phụ giúp một số bạn trẻ (các nhà sưu tầm, hậu duệ KQ…) ở Úc thành lập và điều hành FB Không Lực VNCH, hiện có hàng ngàn thành viên. Chính nhờ tham gia FB Không Lực VNCH mà tôi khám phá ra sự hiện diện của hai vị đàn anh trên thế giới ảo.

Người thứ nhất là cựu Đại tá Nguyễn Văn Chín, nguyên Tham mưu phó Hành Quân, SĐ4KQ.

Theo sự hiểu biết của cá nhân tôi, ông có lẽ là vị Đại tá KQ duy nhất tham gia FB, không phải để khoe khoang cấp bậc, chức vụ mà chỉ để, khi cần thiết, cung cấp sự hiểu biết, giải đáp những thắc mắc về Không Quân trên FB Không Lực VNCH và FB Quân Đội VNCH.

NT Nguyễn Văn Chín ngày còn mang cấp bậc Thiếu tá, Phi đoàn trưởng PĐ-116, và TT Nguyễn Văn Thiệu


Sau khi được biết ông chính là vị thủ khoa (Quan sát viên) Khóa 58 Trần Duy Kỷ, tức là cùng khóa với các ông Lê Bá Định (sếp cũ của tôi), Võ Văn Ân (“sư phụ” của Lý Tống), và là bào huynh của Trung tá Nguyễn Văn Mười (Mười lung), Phi đoàn trưởng PĐ530 ở Pleiku năm nào, tôi xin bái sư ngay!

Theo tôi, cựu Đại tá Nguyễn Văn Chín là mẫu sĩ quan Không Quân lý tưởng: trình độ, tư cách, bay bướm (trong khuôn khổ), tận tâm phục vụ, và hòa đồng. Ông còn là một con người đạo đức: được “rửa tội” theo đạo trong tù CS nhưng sang Hoa Kỳ ông còn sùng mộ hơn nhiều người Công giáo “đạo gốc”, trong số đó có tôi.

Ông có ký ức sâu đậm về thời gian phục vụ tại Biên Hòa và Bình Thủy, hầu như không một nhân vật nổi tiếng nào, diễn tiến quan trọng nào mà ông không biết, không nhớ.

Việc ông nhớ chắc chắn về sự việc và thời gian thay đổi danh xưng chức vụ “Sư đoàn trưởng” thành “Tư lệnh Sư đoàn” trong Không Quân đã khiến tôi yên tâm viết bài Từ SƯ ĐOÀN TRƯỞNG tới TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN, phổ biến trên Lý Tưởng Úc Châu và Hội Quán Phi Dũng năm 2023.

Việc thay đổi danh xưng chức vụ này trước cũng như sau năm 1975 đã gây tranh cãi không ít trong Không Quân, một số người (trong đó có tôi lúc ban đầu) cho rằng “Sư đoàn trưởng” là danh xưng trên giấy tờ còn “Tư lệnh Sư đoàn” chỉ là danh xưng gọi miệng. Trong quyển QSKQ tôi cũng viết như thế.

Phải đợi mấy chục năm sau, nhờ sưu tầm được photocopy các văn kiện, giấy tờ tùy thân của quân nhân KQ trong gian đoạn 1970-1975, tôi mới biết rõ đầu đuôi như sau:

Khi các sư đoàn không quân được thành lập vào năm 1970, danh xưng chức vụ của ông sếp lớn được Bộ TTM quy định là “Sư đoàn trưởng”; sau đó tới cuối năm 1972, thời gian thành lập Sư Đoàn 6 KQ, thì đổi lại thành “Tư lệnh Sư đoàn”; nghe nói nguyên nhân là bị nhiều người chỉ trích “Sư đoàn trưởng” là cách gọi trong quân đội CSBV.

Từ đó tôi rất muốn viết một bài để chấm dứt cuộc tranh cãi “Sư đoàn trưởng hay Tư lệnh Sư đoàn” nhưng vẫn e ngại mình thấp cổ bé miệng không đủ sức thuyết phục các vị đàn anh trong quân chủng, cho tới khi được Đại tá Nguyễn Văn Chín khẳng định chính ông đã nhận được bản sao Sự Vụ Văn Thư về việc đổi “Sư đoàn trưởng” thành “Tư lệnh Sư đoàn” vào cuối năm 1972, tuy nhiên vì thủ tục giấy tờ cho nên qua đầu năm 1973 chữ “Tư lệnh” mới được sử dụng trên các văn thư, giấy tờ tùy thân của quân nhân thuộc các sư đoàn không quân.

Ông còn cẩn thận cho tôi xem hai photocopy:

(1) Thiệp mời dự tiệc khao quân do “Đại tá NGUYỄN HUY ÁNH, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 4 Không Quân” ký tháng 10 năm 1971.

(2) Bản sao Quyết Định Thăng Cấp Sĩ Quan do Đại tá Bùi Quan Khương, Không đoàn trưởng Không Đoàn Yểm Cứ Bình Thủy, ký năm 1974, phía trên có hàng chữ: “Thừa ủy nhiệm Chuẩn tướng NGUYỄN HỮU TẦN, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân”.

Nhờ sự khẳng định của NT Nguyễn Văn Chín, tôi mới yên tâm viết bài nói trên. Ông cũng hứa sẽ viết một bài về Khóa 58 Trần Duy Kỷ, khóa đã cung cấp bao nhân tài cho quân chủng, nhưng sau khi hiền nội của ông qua đời vào năm ngoái tôi không dám “nhắc” ông nữa.

Sức khỏe của ông hiện nay được xem là khá tốt so với tuổi đời gần 9 bó.

* * *

Vị niên trưởng Không Quân thứ hai tôi quen biết qua thế giới “ảo” là cựu Trung tá Nguyễn Phú Chính, Phi đoàn trưởng Phi Đoàn 237 Lôi Thanh (Chinook), SĐ3KQ.

Điều thú vị là khi kết bạn FB với “Cau Ut Long Xuyên” cách đây ba năm tôi không hề biết ông chính là cựu Trung tá Nguyễn Phú Chính, tác giả bài Biên Hòa không lời từ biệt đăng trên Lý Tưởng Úc Châu lần thứ nhất vào năm 2015, sau đó được ông hiệu đính để phổ biến trên Hội Quán Phi Dũng, được nhiều trang mạng đăng lại và trở thành truyện đọc rất ăn khách trên YouTube.

Ngay sau khi Biên Hòa không lời từ biệt được đăng trên Lý Tưởng Úc Châu lần thứ nhất, tôi đã “kết” Trung tá Nguyễn Phú Chính vì trong đó ông cho biết ông là người chịu trách nhiệm chính trong cuộc di tản khỏi CCKQ Biên Hòa chiều 28/4/1975, mà tôi có dự phần.

Nguyên sau khi được Chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, Tư lệnh SĐ3KQ, trao trách nhiệm, Trung tá Chính đã đích thân lái xe tới bãi đậu phi cơ trước Hangar B ở khu Tây để điều động các trực thăng Chinook của PĐ-237 đưa quân nhân thuộc SĐ3KQ và BCH/KTTV/KQ cùng gia đình về Tân Sơn Nhất; tôi cũng hiện diện tại đó vì chịu trách nhiệm di tản quân nhân thuộc Khối CTCT và các phần sở tham mưu thuộc Bộ Chỉ Huy KTTV/KQ.

Cuộc di tản chiều 28/4/1975 (và việc đốt phá các cơ sở trước khi di tản) đã được tôi kể lại đầy đủ trong bài Nghe tiếng hát Phùng Văn Chiêu nhớ những ngày cuối cùng của Biên Hòa viết cách đây hơn ¼ thế kỷ.

Tuy nhiên, cho dù tôi là người thân cận của Chuẩn tướng Từ Văn Bê, ở bên cạnh ông tới giờ phút chót, và là người đầu tiên châm lửa đốt CCKQ Biên Hòa (building Bộ Chỉ Huy ở khu Đông) nhưng vì chỉ là sĩ quan cấp thấp nên những gì tôi kể lại có thể thiếu sức thuyết phục những người không có mặt tại Biên Hòa vào chiều hôm đó; vì thế gần 15 năm sau, những gì Trung tá Nguyễn Phú Chính kể lại đã vô hình trung xác nhận những điều tôi viết, tôi đã thầm mang ơn vị Phi đoàn trưởng 237 nhưng không có cơ hội liên lạc (tôi chỉ biết viết bài cho Lý Tưởng Úc Châu, còn KQ Vũ Văn Bảo, cựu hoa tiêu 237, mới là người đặc trách tòa soạn, thường xuyên liên lạc với vị chỉ huy cũ).

Sau khi hai anh em đã nhận ra nhau là người đồng cảnh ngộ năm xưa (chiều 28/4/1975), tôi và ông Nguyễn Phú Chính trở nên tâm đắc, không chỉ vì cùng là “thổ địa” ở Biên Hòa mà còn vì ông là một người giàu tình cảm, tài hoa (vẽ tranh đồng quê rất đẹp) và có óc tiếu lâm, khôi hài nhẹ nhàng.

Hiện nay ông đã “tóc bạc” nhưng chưa “da mồi”, tôi biết được điều này nhờ thường xuyên xem hình các buổi họp mặt mỗi đầu tháng của Hội Không Quân Bắc Cali mà ông là cánh chim đầu đàn.


NT Nguyễn Phú Chính (người đứng) trong buổi họp mặt đầu tháng 2/2026 của Hội Không Quân Bắc Cali


LỜI TẠM BIỆT

Như đã thưa cùng quý niên trưởng, chiến hữu KQ và độc giả bốn phương, thiên hồi ký BUỒN VUI ĐỜI LÍNH… VĂN PHÒNG của tôi lúc ban đầu dự trù gồm 2 phần, nhưng sau đó đã kéo dài thành 3 phần, rồi lê thê tới 4 phần.

Trong thời gian mấy tuần qua, tôi đã cố gắng kết thúc Phần 4 - Những người muôn năm cũ, cũng là phần cuối cùng của hồi ký - để kịp đăng vào thời điểm tống cựu nghinh tân, nhưng trời đã không chiều lòng người. Chiều 28 tháng Chạp năm Ất Tỵ (ngày 15 tháng 2, 2026), khi tôi chuẩn bị “lên khuôn” thì Hội Quán Phi Dũng bất thần đóng cửa để “bảo trì”!

Tới mồng 1 tết Bính Ngọ diễn đàn mới hoạt động trở lại, và tôi cho rằng mình nên ưu tiên cho những lời chúc tết và các tiết mục mừng xuân. Hôm nay đã qua mồng 3 tết, xin đăng kỳ cuối cùng của thiên hồi ký - xem như nén hương lòng tưởng nhớ những vị đã vĩnh viễn ra đi, một bông hồng gửi tới những vị còn tại thế thay cho lời cám ơn…

Còn với độc giả nói chung, trong cũng như ngoài quân chủng Không Quân, tôi xin gửi lời tạm biệt. Chỉ tạm biệt, bởi một ngày Không Quân, một đời Không Quân, tôi sẽ tiếp tục đồng hành với Hội Quán Phi Dũng một khi sức khỏe còn cho phép.

Thân kính chúc toàn thể quý vị, quý chiến hữu một năm Bính Ngọ an lành, hạnh phúc, mã đáo thành công.

NGUYỄN HỮU THIỆN
Melbourne, Úc-đại-lợi
Xuân Bính Ngọ 2026



PHỤ LỤC:

1-Thái Dương NGUYỄN ĐÌNH XANH - Một người như mọi người

https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/truy%E1%BB%87n-vnaf/3529-th%C3%A1i-d%C6%B0%C6%A1ng-nguy%E1%BB%85n-%C4%91%C3%ACnh-xanh_m%E1%BB%99t-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-nh%C6%B0-m%E1%BB%8Di-ng%C6%B0%E1%BB%9Di

2- B-57 Canberra in the Republic of Vietnam Air Force

https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/qu%C3%A2n-s%E1%BB%AD-kh%C3%B4ng-qu%C3%A2n/10262-b-57-%E2%80%9Ccanberra%E2%80%9D-in-the-republic-of-vietnam-air-force

3- Đôi Dòng Cảm Nghĩ Về NGÀNH KHU TRỤC

https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/3726-%C4%91%C3%B4i-d%C3%B2ng-c%E1%BA%A3m-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-ng%C3%A0nh-khu-tr%E1%BB%A5c

Cookies user preferences
We use cookies to ensure you to get the best experience on our website. If you decline the use of cookies, this website may not function as expected.
Accept all
Decline all
Analytics
Tools used to analyze the data to measure the effectiveness of a website and to understand how it works.
Google Analytics
Accept
Decline
Advertisement
If you accept, the ads on the page will be adapted to your preferences.
Google Ad
Accept
Decline
Save