Login to your account

Username *
Password *
Remember Me

Khóa 61 SVSQ KQ tại Pensacola, Florida, Hoa kỳ - phượnghoàng kimcương

Posted by October 13, 2022 622
Khóa 61 SVSQ KQ tại Pensacola, Florida, Hoa kỳ

phượnghoàng kimcương

---oo0oo---


Toán 'Navy' chúng tôi gồm cả thảy 35 người: 1 Tr/úy Võ Bị Đà-Lạt, 2 Th/úy Bộ Binh Thủ-Đức và 32 SVSQ KQ. Chiếc C-124 Globemaster II của "Military AirTransport Service" (MATS), màu trắng và đỏ, có cái mũi tròn vo màu đen thui, nhô ra phía trước, chở chúng tôi băng qua Thái Bình Dương, với 4 lần dừng lại đổ xăng ở Clark Air Base/ Phi Luật Tân, đảo Guam, Wake Island, Hickam AFB/ Honolulu, Hawaii. Nó vừa mới đáp xuống Travis AFB, California, trong không khí mát lạnh cuối Xuân ở Bắc Ca-li này. Hai chiếc 'bus' màu xám tro của 'US Navy' ra đón chúng tôi, đưa đi làm thủ tục nhập cảnh và khai quan thuế (customs and immigration), rồi đưa về căn cứ NAS Treasure Island ở Vịnh Cựu Kim Sơn (San Francisco Bay).


Tại đây, chúng tôi lấy mỗi người một ngăn tủ nhỏ (locker), gởi hành lý vào đó, để đi dạo phố, nghỉ ngơi qua đêm. Sáng sớm hôm sau, họ đưa chúng tôi ra bến xe lửa xuyên bang "Pullman" để đi San Antonio, Texas.



Chiếc C-124 Globemaster II có 2 tầng, tầng trên chở hành khách, tầng dưới chở hành lý


Đây là loại xe ô-tô-buýt đã chở chúng tôi đi suốt cả buổi
từ phi trường về thành phố để làm giấy tờ vào xứ Mỹ

Còn đây là chiếc xe lửa xuyên bang "Pullman" có toa giường ngủ (sleeping car/ wagon-lit), toa nhà hàng (restaurant and wine-bar/ voiture-bar restaurant), và toa ngắm phong cảnh ở trên nóc (mezzanine) đã chở chúng tôi đi suốt 40 tiếng đồng hồ, từ San Francisco, California, xuyên qua mấy nhà ga có tên rất quen thuộc trong các phim cao-bồi mà chúng ta thường xem ở các rạp chiếu bóng ở Sài-Gòn, như 'Verde Valley', Arizona, 'Santa-Fe', New Mexico, 'El Paso', Texas, đến 'Houston', Texas


Toa giường ngủ có 'couchette' (giường xếp vào vách), tủ lạnh,
bồn vệ sinh (siège anglais), bồn rửa mặt 'lavabo'


Toa nhà hàng mà kháck phải diện com lê (complet) mới được tiếp đãi (servir).
Toa du ngoạn trên gác lửng 'mezzanine'


Hình chụp toán 61 'Navy' với 2 sĩ quan liên lạc: Đ/úy Vĩnh Đạt bàn giao cho Đ/úy Trịnh Hoành Mô.
Từ trái qua phải:
Hàng 1: Th/úy Hòa, Đ/úy Đạt, Đ/úy Mô
Hàng 2: Nguyễn Đình Quý, Đào Trọng Chí, Dan Hoài Bữu
Hàng 3: Nguyễn Văn Phong, Phạm Đăng Cường, Vũ Hiệp, Lê Như Hoàn
Hàng 4: Võ Văn Trương, Cao Minh Dõng, Nguyễn Tiến Thành


Hình chụp lớp "Advanced English". Từ trái qua phải: Bữu, Phong,
Th/úy Nguyễn Cầu, Cường, giảng viên Ms Eiland, Hiệp, Chí


Sau 16 tuần lễ học Anh văn tại Trường Sinh Ngữ ở Lackland AFB, Tây-Nam San Antonio, Texas, chúng tôi, mỗi toán một xe, thay phiên nhau lái, chạy suốt ngày đêm, để sớm đến trường bay, mà ai nấy đều mong mỏi đợi chờ, không biết tự bao giờ.

Trường Địa Huấn "School of Pre-Flight" nằm trong Căn cứ bay Hải Quân NAS Pensacola, Florida. Tại đây hằng tuần đều có một lớp nhập học và một lớp ra trường. Không kể các mùa lễ lớn, mỗi năm có 48 lớp. Số người không nhất định. Có lớp đến 70 người như lớp 48-62, mà cũng có lớp chỉ có 16 người thôi như lớp 16-62.

Thời gian Huấn Nhục (Indoctrination) kéo dài 215 giờ trong 8 tuần. Các 'US Marine Sergeants' truyền thụ, từ lời ăn tiếng nói dõng dạc to lớn, đến cách đi đứng chặt góc vuông, chào hỏi, cho chúng tôi cũng y như cho các NAVCAD và MARCAD1 khác, không phân biệt. Ngồi ăn cũng thẳng lưng và nâng thức ăn ngang miệng rồi mới đưa vào. Tuần lễ đầu tiên, họ đối xử mình không thua gì mấy thằng tù. Khi trình diện tại Bldg 624, Sĩ quan trực trong ngày OOD (Officer of the Day) sung công hết mọi thứ đồ xi-vin để khi ra trường mới trả lại. Họ phát cho mỗi người một bộ áo liền quần (poopie suits) và một đôi giày đi rừng (boondockers, loại giày da lộn sần sùi), rồi tống cổ tất cả vào một hầm tối tập thể (squad bay), đóng sầm cánh cửa sắt và khóa lại. Đây là một loại khám tối (dungeon/ cachot), không có đèn đuốc chi cả. Một nửa bức tường ngăn ở giữa, sát hai bên ấy là một bậc thềm cao và rộng vừa đủ để người ta có thể nằm ngủ trên đó. Đi tiểu thì ở cái mương dọc theo vách phía bên kia, có nước nhểu rỉ rả. Cánh cửa sắt có cái cửa chớp nhỏ (shutter), cái khe hẹp vừa đủ để một người có thể nhìn thấy bên ngoài. Khi cần đại tiện thì gọi SVSQ trực mở cửa. Không biết làm cách nào, mà anh Nguyễn Văn Phong tự Phong say nhà ta giấu được một lon bia. Tối hôm đó anh khui ra, cho mỗi thằng đớp một hớp đỡ thèm. Mấy thằng Mỹ con làm ngơ, không giám tham gia, mà cũng không giám báo cáo. Nhưng sau này khi ra trường, tụi nó nhắc lại chuyện này và quá nể cái liều lĩnh của anh


Toán mình lái chiếc Dodge Custom Royal, toán
anh Nguyễn Văn Bé có anh Hoàn lái chiếc Ford Galaxie….

Anh Hoàn bận áo khoác màu lá cờ tiểu bang Texas và chiếc xe Ford Galaxie

Lá cờ của Tiểu bang Texas


Dừng chân ở Galveston Bay, chụp vài 'pose' kỷ niệm Texas trước khi băng qua Louisiana.
Chiếc xe Dodge Custom Royal ở phía sau trông cũng 'ngầu' ghê há!


bạn mình, mà không cho đó là ba gai. Mãi đến khi sau này chúng tôi đi tù cộng sản, thì mới hiểu ra là bất cứ chuyện gì bạn tù mình làm, dù có sái kỷ luật nhà tù đi chăng nữa, thì phải cố giấu triệt để, chớ hễ mà nói ra thì họ xem mình như làm ăng-ten cho bọn cai tù và sẽ bị bạn tù mình trừng trị đích đáng ngay.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi bị đánh thức bằng tiếng chuông reo inh ỏi và loa hô to: “Reveille! Reveille! Reveille! All hands hit the deck2” (Dậy! Dậy! Dậy! Mọi người xuống giường). Tất cả chạy ra ngoài, nghe giảng một hồi, rồi co tay chạy đều lên 'mess hall' (phòng ăn) ăn sáng. Không thấy thằng nào đánh răng, rửa mặt chi cả. Mọi lời nói đều dùng từ ngữ hàng hải. Mít mình thì nghe tiếng đặng tiếng mất, nhưng cứ làm theo mấy thằng Mỹ con là được rồi. Ăn xong là tất cả xếp hàng chạy bộ đến lớp học. Tiểu đoàn trưởng Khóa sinh 'Battalion Officer' chào mừng khóa sinh mới đến "Welcome aboard!" và giới thiệu chương trình Lớp 'Indoctrination Class', tạm dịch là Lớp Huấn Nhục. Sau đó họ đưa chúng tôi đi cạo đầu, sát rạt như mấy thầy chùa vậy đó. Chúng tôi còn nhớ anh Nguyễn Tiến Thành ôm mặt khóc thê thảm: “Con tao tóc còn dài hơn tao nữa, hu, hu”…

Các 'cadet' (sinh viên sĩ quan) đến phòng quân trang, để người ta lấy ni nón, quần áo, giày, rồi cấp cho quân phục, chụp hình làm thẻ căn cước và cấp cho mỗi người một thẻ bài 'dog tag'/ plaque d'identification bằng inox trên đó có khắc tên họ, số quân, loại máu.…

Toán chúng tôi phải mất thêm ít nhất 2 tuần lễ nữa để học Anh văn của Hải quân Hoa kỳ do Mr. Boyington dạy. Do đó lúc trình diện thì ở lớp 35 mà lớp đầu tiên học Địa Huấn lại là lớp 37-62. Cứ mỗi tuần thi 'test', Mr. Boyington chọn vài người có điểm cao nhất để xếp vào lớp mới. Sau khi khám sức khỏe tổng quát lại, thì anh Đào Trọng Chí bị loại khỏi trường vì viêm xoang mũi nặng. Còn anh Nguyễn Quang Lãm thì bị gởi trả lại trường Sinh Ngữ Lackland.

Họ xếp 2 đứa vô một phòng, một Mỹ một Mít. Cứ mỗi sáng thức dậy bằng tiếng chuông reo và loa phóng thanh, mọi đứa, mắt nhắm mắt mở, đều chộp lấy nùi lau, quơ quào cái màn lá sách che cửa sổ (venitian blinds/ stores),



Đứng sát chiếc xe từ trái qua là Bữu, Dõng, Cường.
Phía sau, người mặc đồ 'civil' là giảng viên Mr. Boyington


Hình chụp các lớp 40, 41, 44 và 45, lúc mới bị cạo đầu trọc. Từ trái ngồi hàng đầu: Chương, Trai,
Thu, Thiết, Tước, hàng nhì: Phan, Việt, Nghị, Nhơn, Phú, đứng: Kiên, Bé, Thanh, Giàu, Tám, Trực


tấn 'drap' giường cho thẳng thớm, làm vệ sinh cá nhân, ôm bồn cầu lau sạch sẽ. Bồn rửa mặt cũng phải khô ráo. Cục sà-bông phải xài chớ không được để ở đó thờ mà không bao giờ đụng tới, và phải lau khô mỗi lần xài. Khi tới phiên trực còn phải biết sử dụng máy 'vacuum cleaner' hút bụi hoặc dùng cây 'broom' đẩy bụi vào một góc phòng rồi hốt, lấy 'mop' lau nhà với nước sáp 'wax', rồi đánh bóng sàn nhà lại với 'floor buffer'. Ngoài ra còn 'cleaning details' nữa, nghĩa là đánh bóng mấy ổ khoá cửa, tay nắm/ quả đấm cửa (knob/ poignée). Ở các lớp Cơ Bản Thao Diển, khi xếp hàng thì người cao đứng trước, người lùn đứng sau, như vậy đâu có vấn đề gì đâu. VN đâu có ai cao hơn Mỹ đâu mà sợ. Nhưng ở đây thằng 'Right Guide' đi trước cả đoàn quân lại là thằng lùn nhứt, do đó thằng Mít mình trốn đâu cũng không tránh được. Còn anh ĐH Thiết thì cứ đánh tay cùng chiều với chưn, nghĩa là khi bước chưn trái lên thì anh cũng đánh tay trái tới, rồi tới bước chưn mặt lên thì đánh tay mặt tới và cứ như thế không cách nào chữa được nên bị loại, không được tiếp tục học quân sự nữa.

Sau 8 tuần huấn nhục thì đến giai đoạn Huấn luyện Quân sự (Military Training). Chúng tôi được học làm những công việc hằng ngày (routine) mà một sĩ quan thật sự làm, theo sự hướng dẫn và kiểm soát của các sĩ quan huấn luyện viên và sinh viên cán bộ trong Trung đoàn khóa sinh. Thường thì huấn luyện quân sự nhắm vào việc điều hành văn phòng hằng ngày, áp dụng quân phong, quân kỷ, sử dụng vũ khí cá nhân, chào kiếm chuẩn bị lúc làm lễ ra trường.

Mình còn nhớ lần đầu tiên khi làm COOD (Cadet Officer of the Day) SVSQ trực, đó là ngày thứ hai 22 tháng 10, 1962, nhằm lúc Liên xô đe dọa đưa hỏa tiễn liên lục địa qua Cuba. Tổng thống John F. Kennedy lên đài truyền hình, báo động cả nước chuẩn bị chiến tranh. Ngài ra lệnh cho tất cả tàu bè đang đi về hướng Cuba đều phải quay đầu trở lại. Đêm hôm đó mưa tầm tã. Điện thoại gọi tới tấp suốt cả đêm. Mình nửa trả lời thẳng, nửa phải giữ người đối thoại ở đầu dây, đợi SQ trực giải quyết. Tất cả SVSQ đều ra ngoài 'lounge' theo dõi tình hình trên TV.

 


Bãi biển "Pensacola Beach". Từ trái qua: Phong, Hiệp, Cường, Hoàn, Bữu


Tổng thống Kennedy thì ngồi trực đường dây điện thoại nóng giữa Hoa Thịnh Đốn và Mạc Tư Khoa (Moscow-Washington hotline). Tới sáng Đ/úy Trưởng đoàn Khóa sinh gọi và muốn nói chuyện với OOD (Officer of the Day) SQ trực. Mình cho ông ấy đợi trên đường dây và gọi qua OOD, nhưng không có ai trả lời. Mình chạy qua phòng trực OOD ở kế bên, mới biết ra ông ấy đi 'restroom' (vệ sinh). Lúc bấy giờ cũng đúng 6 giờ sáng; mình phải gọi loa đánh thức SVSQ. Vừa xong thì SVSQ trực phiên kế đứng đợi để bàn giao. Mình đang rối bù thì Đ/úy Trưởng đoàn khóa sinh xuất hiện. Té ra, nãy giờ ông ấy đã đợi trên đường dây, mà không có ai trả lời, mới cuốc bộ qua…. Kết quả là cuối tuần mình bị phạt 'cấm trại' và 'đi bộ' 2 giờ. Tới trưa thứ bảy, sau khi ăn 'brunch' xong, mình lên trình diện phòng trực, ghi tên vào sổ phạt và lấy đồ trang bị như găng tay, ghết giày (gaiter/ guêtre) trắng và kiếm để vừa đi bộ vừa tập chào kiếm.

Mỗi sáng, sau khi thức dậy và làm vệ sinh cá nhân xong, loa gọi “All hands fall in for morning spiffy (inspection)”, thì tất cả chạy ra xếp hàng ngoài sân, quần áo thẳng nếp, giày bóng loáng, cà vạt và bâu áo phải có kim gài (collar and tie pins). Sinh viên cán bộ đến trước từng người, ngắm nghía xem quân phục có đúng cách không, rồi hỏi những câu về lịch sử, chính quyền Hoa kỳ hiện tại, thời sự. Tới phiên anh Lê Như Hoàn lên làm cán bộ thì còn thêm những câu hỏi “Who is the President of the Republic of Vietnam?”, “Who is the Secretary of Defense of Vietnam?”, “Who is the Chief of Staff of the ARVN?”, làm mấy thằng Mỹ con truyền nhau để học thuộc làu hầu còn trả lời cho đúng, nếu không thì sẽ bị hít đất (push-ups) hoặc bị COB (confined to barracks) cấm trại, phạt đi bộ, không cho ra phố cuối tuần. Nói một cách khác là ngoài quân phong quân kỷ, chúng tôi còn được rèn luyện về tinh thần đồng đội (esprit de corps). Đi ăn ở 'mess hall' (nhà ăn tập thể). Mỗi thứ tư có bữa cơm chiều dưới ánh đèn cầy (candlelight dinner), có người hầu rượu (steward3) đứng bên cạnh để phục vụ rượu vang, trông thật là quí phái. Mỗi thứ sáu có tiệc 'buffet' ăn xả láng tự phục vụ, có khi cả một đùi bê thui, hoặc một con trừu quay, hoặc một con cá tầm (sturgeon) đúc lò to lớn, để nguyên trên một cái bàn dài ở giữa phòng ăn. Thứ bảy nhà ăn mở cửa trễ, điểm tâm và ăn trưa nhập chung lại làm một bữa gọi là 'brunch'.

Văn hóa (Academics) có các môn Toán và Vật lý áp dụng cho ngành hàng không đòi hỏi phải dùng thước 'slide rule' để tính, một dụng cụ mới lạ mà sinh viên ở VN có bao giờ xài đến đâu. Anh Nguyễn Trí Kiên, rất chăm chỉ và thiệt thà, cứ cắm đầu cắm cổ, kéo tới kéo lui cây 'slide rule', vừa chậm chạp hơn người ta mà vẫn ra đáp số sai, không còn đủ thời giờ để nộp bài, nên phải thi lại mấy lần môn này. Các bạn thì cứ thích chọc quê, gọi anh là "nhà bác học mà không biết làm toán". Môn 'Naval Orientation' dạy cho biết về lịch sử và tổ chức Hải quân Hoa kỳ. 'Aerodynamics' là khí động học áp dụng cho phi cơ và bom đạn sử dụng. 'Study Skills' dạy cách học bài trong đó có 'Speed Reading Skills' (Speedy Skills) kỹ năng đọc nhanh và 'Communication Skills' kỹ năng thông đạt. 'Leadership' dạy về nghệ thuật lãnh đạo. 'Engineering' bao gồm môn Động cơ nổ và Động cơ phản lực. 'Aviation Science' dạy cách điều khiển các bộ phận của phi cơ, luật lệ lưu thông hàng không, phương sách bảo trì phi cơ, phương thức liên lạc vô tuyến. 'Code Morse' dạy cách đánh và nhận tín hiệu truyền tin và 'Recognition' dạy cách nhận dạng phi cơ đồng minh và phi cơ địch. 'Weather and Meteorology' dạy cho ta biết xem Thời tiết và Khí tượng. Vào kỳ thi 'final' (cuối môn), anh Phong có hỏi người bạn Mỹ ngồi kế bên, hiện là một kỷ sư của ngành này, một câu hỏi khó giải; đến chừng kết quả ra thì anh Phong có điểm cao hơn người bạn Mỹ. Anh này bất mãn mới trình với giảng viên thì bị ông này bắt lỗi: anh đã có hành vi gian lận (cheat/ tricher) trong lúc thi nên phải bị đánh rớt và bị loại khỏi khóa. 'Navigation' (du hành) trong đó có 'Celestial Navigation' nhắm hướng ban đêm bằng vị trí các sao trên trời, dạy cách sử dụng các thiết bị trợ hành 'NAVAID' và cách đọc bản đồ. Ngoài ra còn có môn Chánh trị 'FNP' (Foundation of the National Power), phần lớn dạy về lịch sử thế giới với những chế độ khác nhau, những tổ chức quốc tế, như UNO, NATO, WTO4, những lắc léo ngoại giao, những hiệp ước, công ước cận đại, nhứt là quá nhiều những ngày tháng (date) phải thuộc lòng. Chúng tôi phải nhờ đến các bài tủ ‘gouge’ (Q&A/ Hỏi&Đáp) để học thêm vào buổi tối. Tất cả đều có phim ảnh, trợ huấn cụ cho từng ngành một.

Về môn Thể Lực và Mưu sinh Thoát hiểm (Physical Fitness-Survival) thì anh Phạm Đình Anh nhờ có Nhu đạo (Judo) nên đã quật ngã dễ dàng đối thủ Mỹ, to lớn hơn anh gấp bội trong môn Đô vật (Wrestling). Chúng tôi còn tập dợt quyền Anh có đội nón độn nệm (boxing smoker). Về Bơi lội thì phải bơi có bận đồ bay, suốt 1 hải lý (nautical mile) hay 1853 m, tương đương với 37 chiều dài (length) của hồ bơi. Anh PĐ Anh vật lộn dễ dàng mà bơi hoài không đủ 37 vòng, nên bạn bè cũng chọc quê với câu "lực sĩ mà không biết bơi". Chọc quê cho vui trong thời gian bị hành hạ cực khổ này thôi.

Còn nói tới ‘Dilbert Dunker’ thì khỏi chê: người ta đặt anh ngồi vào một cái ghế sắt tương tự như 'cockpit' (phòng lái) của phi cơ nhỏ T-34, gài dây an toàn 'shoulder harness' và 'safety belt', kéo anh lên tuốt trên đỉnh của giàn phóng cao khoảng chừng 6 m, rồi khi nào nghe huấn luyện viên thổi tu huýt một cái thì họ buông cái ghế cho rơi theo đường ray chúi xuống chừng 45°vào hồ nước. Cái ghế lật úp. Nước bắn tung tóe tùm lum. Anh phải đếm thầm: “One thousand one, one thousand two,…one thousand five”, rồi nhanh nhẹn tháo gỡ dây an toàn bụng và vai. Hai chưn ngồi chòm hõm lên ghế, hai tay vói thẳng lên miếng gỗ, giả làm 'windshield' (kính che gió), ngửa đầu ra phía sau, rồi hai tay, hai chưn tống mạnh thẳng cẳng ra khỏi cái ‘Dilbert Dunker’. Tứ chi vẫy vùng như con ếch, cố ngoi đầu từ dưới đái hồ lên khỏi mặt nước.

Sau đó huấn luyện viên chỉ cách đánh vào quai hàm của nạn nhân để làm cho họ bất tỉnh trước khi lôi họ vào bờ để cứu họ, đồng thời làm hô hấp nhân tạo 'CPR'. Ngoài Đoạn đường Chiến binh (Obstacle Course) tụi tôi còn phải biết chơi 'trampoline', không những chỉ nhún nhảy mà còn phải biết nhào lộn, như thế sau này khi lên trời mình sẽ dạn làm mấy động tác phi hành (flight maneuvers) hơn.

 


Hình chụp với cái "Academics Badge" khi ra trường "School of Preflight" Pensacola


Phạm Đình Anh xuất sắc về 2 môn "Thể lực và Quân sự" nên được 'badge' màu đỏ


Hình lớp 37-62 lúc ra trường hàng thứ nhì vào: Dan Hoài Bữu, Nguyễn Văn Phong
hàng thứ 3 vào: Võ Ngọc Trinh, Nguyễn Huy Bổng, Vũ Hiệp


Môn nhảy dù trên đất liền và dưới nước tập cho khóa sinh biết cách tréo hai tay để lòn hai bàn tay lên vai mò lấy cái khóa để giựt mở cho dù rời ra khỏi thân khi vừa chạp đất hay nước.

Nói cho cùng môn Thể lực luyện cho khóa sinh sức chịu đựng dẽo dai trong tinh thần thể thao (spirit of sportmanship) và biết chơi đẹp (cạnh tranh sòng phẳng) (fair play/ franc-jeu).

Sau 16 tuần lễ, quần quật với đèn sách, đoạn đường chiến binh, lúc nào cũng giữ cho 'ship shape', sạch sẽ, ngăn nắp, thứ tự như ở dưới tàu, vào tuần lễ cuối cùng, cả lớp bị bỏ vào khu sình lầy của rừng 'Eglin AFB'. Ở đây người ta đã từng huấn luyện Mưu Sinh Thoát Hiểm cho Biệt Kích Mỹ (Green Berets).

Chúng tôi, từng toán từ 2 đến 5 đứa, tự tìm cách mưu sinh đã học: gài bẫy bắt thú, hái trái cây, đào củ rừng, hứng nước, nướng thức ăn, nấu nước uống, xông khói để trữ thịt, cá,...và dò bản đồ tìm về vị trí đơn vị bạn gần nhứt mà cố tránh vị trí địch ghi trên bản đồ mà họ đã phát cho. Khi trở về trại nhà thì mỗi khóa sinh được phát một tờ khai chọn lựa ngành nghề 'Career of Preference'. Có người chọn ngành phi hành gia 'Astronaut', phần đông là phi công 'fixed wing pilots' (máy bay có cánh cố định), còn lại là phi công trực thăng 'rotary wing pilots'. Khóa sinh Việt-Nam không có đường lựa chọn mà chỉ ghi 'fighter pilots' (pilote de chasse/ phi công khu trục) để điền cho đầy đủ rồi nộp với người ta.

Một ủy ban xét thưởng (award commitee/ comitée de récompenses) nhóm họp để chấm điểm cuối khóa: giảng viên Toán-Vật Lý, Hải quân Đ/úy Lt Blanchard nhận định trong 3 năm ông giảng dạy tại đây, lần đầu tiên có một khóa sinh đã đạt được cả 3 lần điểm thi tối đa 100, đó là SVSQ KQ A/C (Aviation Cadet) DH Bữu. Nhưng giảng viên môn Chánh trị 'FNP' cần sự giải thích tại sao 2 lần đầu thì Bữu phải thi lại mà lần thi cuối khóa 'final' thì đạt điểm cao nhứt 98. Mình mới giải bày:"Vì môn này có nhiều từ về chánh trị ngoài chuyên môn chúng tôi, chúng tôi phải nhờ đến các bài tủ ‘gouge’ (Q&A/ Hỏi&Đáp) để học thêm


Noël năm 1962, mấy thằng Mỹ con đều về với gia đình, sinh viên VN đi tản mát khắp nơi theo sở thích. Hình chụp anh Hoàn đứng bên cây sapin (thông) trong cảnh phủ đầy tuyết của thủ đô Hoa Thịnh Đốn.


vào buổi tối, đồng thời để giúp đỡ các bạn đồng hương ở mấy lớp sau". Các giảng viên khác cho anh Bữu có lý, trong lúc các môn khác anh đều đứng đầu (on top) nên xứng đáng được nhận Huy hiệu Phần thưởng Văn hóa "Academics Badge".

Ngày thứ sáu 25 tháng January 1963, lớp 37-62 nhận văn bằng tốt nghiệp, đúng hơn là một quyết định bổ nhiệm làm một chức vụ nào đó trong Trung đoàn Sinh viên Sĩ quan (Cadet Regiment).

Người nào xuất sắc về một môn nào đó thì được gắn thêm lên trên bảng tên ở nắp túi áo bên mặt một 'badge' màu đen có tên môn đó chữ trắng. Nếu được hai môn xuất sắc thì 'badge' đỏ chữ trắng, còn ba môn thì 'badge' vàng chữ xanh nước biển. Mình được thưởng "Academics badge" (xuất sắc về Văn hóa) và được chỉ định làm Đại úy SVSQ Đại đội trưởng Đại đội 'E' (Echo Company) thuộc Tiểu đoàn III, Trung đoàn SVSQ Trường "US Naval School of Pre-Flight". Tuần lễ sau đó chúng tôi làm lễ ra trường. Sáng sớm, mình dẫn đầu đại đội mình, cùng với cả đoàn khóa sinh, đi diễn hành với đầy đủ lễ nghi quân cách và chào kiếm, từ trại khóa sinh đến bãi làm lễ. Hai tuần kế đó, anh Phạm Đình Anh ra trường với bảng "Military & Physical Fitness" (Quân sự & Thể lực) màu đỏ và làm Tiểu đoàn phó Khóa Sinh….

Về phi huấn thì cũng khác người ta, là phải qua giai đoạn Phi huấn Vở lòng (Primary Flight Training) trên T-34B Mentor, ít nhất là 9 tuần, ở Trường bay VT-15 tại căn cứ phụ (Naval Auxiliary Air Station) NAAS Saufley Field, Pensacola cách 10 dặm (miles) về hướng Bắc của "Mainside" (tên của căn cứ chánh NAS Pensacola).

Tuần đầu làm thủ tục đến và làm quen (Orientation) với cách ăn ở tại Căn cứ "Saufley Field". Trường bay "VT-1" nằm ở 'Hangar' 809 với 3 phi đội Hải quân 12, 13, 14 và phi đội 18 của TQLC (Marine Corps).

 


Sự vụ lệnh của Giám đốc Quân sự Trường Địa huấn bổ nhiệm Đ/úy SVSQ DH Bữu
làm ĐĐT Đại đội E thuộc Tiểu đoàn III SVSQ, "U.S. Naval School, Pre-Flight"


Lễ Quốc Khánh 26-10-1963 được tổ chức tại phòng Khánh tiết của Bộ Chỉ huy Phi huấn
Căn bản Hải quân Hoa kỳ "Naval Air Basic Training Command". Từ trái qua:
hàng đầu: Nhơn, Giàu, Phong, Trai, Chương, Tr/úy Nhã, Tùy viên của Rear Admiral M. H. Tuttle, CHT, Thu, Kiên, Bổng,
hàng nhì: Bé, Thanh, Bữu, Quý, Tước, Anh, Phú, Lâm, Thành, Hoàn,
hàng 3: Cường, Trực, Phan, Kế, Nghị


Hai tuần kế tiếp là địa huấn (ground training). Điạ huấn ở đây khác hẳn với địa huấn lý thuyết học ở bên trường "Pre-Flight". Địa huấn ở đây áp dụng cho chiếc phi cơ T-34 mà mình sẽ bay trong nay mai. 'Cockpit Procedures' chỉ cách sử dụng và làm quen với các đồng hồ phi kế, lúc mở máy, đang bay, và lúc đáp. Ở đây có nguyên cái 'cockpit' (phòng lái) của phi cơ làm trợ huấn cụ nên rất dễ hiểu. 'Engineering' và 'Flight Characteristics' cho ta biết khả năng của phi cơ, chịu đựng được bao nhiêu G’s, hỏng bánh ở tốc độ nào và chạy được bao xa mới hỏng bánh. Vòng đáp 'touch-and-go' (chạm bánh - bay lại) như thế nào. Phương thức liên lạc vô tuyến với đài kiểm soát không lưu ra sao. Ở đây có 'skull practice', nghĩa là mỗi khóa sinh được mang một cái 'headset' để thực tập, gọi báo cáo với đài không lưu và được nghe đài trả lời y như trên thực tế. Ngoài ra còn có 'link trainer' (phòng lái giả) để cho khóa sinh thực tập, ôn lại mấy động tác bay trong lúc chờ đợi có phi cơ khả dụng để bay.

Sau hai tuần lễ địa huấn, chúng tôi mới được giới thiệu với 'huấn luyện viên bay' ở bên 'hangar' 809. Ông ‘thầy’ mới chỉ lên bảng phi lệnh tên của ‘thầy&trò’ cùng với số chiếc phi cơ mà mình sẽ bay. Rồi ông hướng dẫn cách 'check' bảng 'Notams' (notices for airmen) xem thời tiết và đường bay đang sử dụng. Sau đó thầy dẫn mình qua phòng dù lấy mỗi người một cái, chỉ cách kiểm soát dù thế nào là an toàn. Mình phải nói lên từng điểm một để kiểm soát dù cho thầy nghe, xong xuống phi đạo (flight line), đọc và ký vào 'yellow sheet', tờ này mô tả tình trạng của phi cơ. Một chiếc 'pickup truck' kéo "Charlie Cart" là cái rờ moọc chở phi công ra bãi đậu phi cơ (ramp). Thầy bảo mình ghi nhớ những gì ông làm trong chuyến bay đầu tiên này, vì mấy lần sau là mình phải làm tất cả. Coi như chuyến bay này là chuyến bay đầu tiên ‘baptême de l’air’ của mình. Ông báo cáo đài, cất cánh, bay lòng vòng quanh Pensacola và giới thiệu cho mình những địa danh quen thuộc: Hải đăng "Pensacola Lighthouse", phi trường "Forrest Sherman Field" của đội phi diễn "Blue Angels", sân golf của Đô đốc Chỉ huy trưởng....


Hình chụp lúc 'solo' đầu tiên

Còn đây là hình chụp cái 'solo bar', có ý nghĩa giống như một cánh đơn (single) của KQVN. Khi nào được thả bay 'đơn phi' thì đeo nó bên trên túi áo trái và đeo một 'cánh đơn' bên trên túi áo phải, để lấy le với mấy đàn em. 'Cadet' nào đáp hàng không mẫu hạm (carrier landing) thì được mang double-bar

Giai đoạn 'pre-solo' (tiền đơn phi) có cả thảy 13 phi vụ. Trừ phi vụ làm lễ ra mắt (baptême de l’air), chúng tôi phải bay qua 10 phi vụ, thực tập các động tác bay căn bản. Bài nào cũng nhắc phải TRIM, TRIM, TRIM, sử dụng bộ phận 'trợ phi' điều chỉnh cho phi cơ bay bình phi, phương thức làm vòng đáp và kỹ thuật đáp, đồng thời biết cách đối phó với các trường hợp khẩn cấp. Luôn luôn phải giữ sự bình tĩnh và an toàn của một người phi công (good airmanship and safety). Phi vụ thứ 12 (safe-for-solo check flight) bay với một thầy khác có nhiều kinh nghiệm trong nghề huấn luyện và khảo hạch khóa sinh. Khi về đáp thì thầy mình đã chờ sẵn ở bãi đậu. Thầy giám khảo (check pilot) đưa ngón tay cái lên (thumbs up)
ra dấu mình đã thi đậu. Ông bước xuống phi cơ để mình tự gọi đài, xin ra cất cánh trở lại và bay một vòng, trong lòng rất mừng rỡ, khoan khoái, rồi về đáp. Và đó là phi vụ thứ 13, phi vụ bay đơn phi (solo) đầu tiên. Khi mình vào 'flight line', ghi 'aircraft discrepancies' (trục trặc của phi cơ) lên 'yellow sheet' và máng nó lại 'line shack', thì anh thợ chụp hình đã đợi sẵn ở đó để chụp cho mình tấm hình kỷ niệm sự kiện quan trọng gây ấn tượng sâu sắc nhứt trong nghiệp bay mình. Chiều hôm đó, mình phải mang cà-vạt lúc lên câu-lạc-bộ dự lễ ăn mừng đơn phi của mình. Một anh bạn thúc ké hai tay mình ra phía sau để cho một anh khác, một tay nắm lấy cà-vạt, tay kia lấy kéo xớt ngang phân nửa. Trên đường về phòng có hai bạn đi theo, rồi một anh nắm hai tay, anh kia nắm hai chưn, quăng mình xuống hồ tắm. Lễ ăn mừng được thả 'solo' là như thế đấy. Còn Th/úy LT Hòa thì nhát gan, nên mấy lần bay khảo sát, không được "thumps up" và bị loại, không được tiếp tục học.

Sau đó thì tất cả trở lại bình thường, cứ sáng bay chiều địa huấn hoặc đổi lại sáng địa huấn chiều bay. Hôm nay bay với thầy để học những ‘chiêu thức’ (figure) mới thì ngày mai bay đơn phi để tự luyện lại các chiêu đó. Trong giai đoạn 'precison stage' (nhuần nhuyễn) này, đâu đâu trong 'hangar' 809 người ta đều cũng nghe mấy khóa sinh bàn bạc om sòm với nhau, dùng những ‘lingo’ (từ chuyên môn) như 'loop' (nhào lộn 360°), 'full Cuban eight' (vòng số 8), 'wingover'/ renversement (lật ngược 180°), 'barrel roll'/ tonneau


Chiếc T-34B này đang cận tiến từ hướng Tây vào hạ cánh ở sân bay Saufley Field


barriqué (xoắn ốc), 'spin'/ vrille (xoáy vòng). Chúng tôi học từ những đòn nhào lộn trên không (aerobatics) nhẹ nhàng đến những đòn khó khăn và 'hop' (flight/ phi vụ) nào cũng có bài học về trường hợp khẩn cấp khác nhau. Sau 15 'hops' thì có 1 'hop' khảo sát. Lần này 'check pilot' chẳng những là khác thầy mà còn khác 'flight' (phi đội) nữa. Khảo sát thấy bay nhuần nhuyễn và đủ an toàn thì được qua giai đoạn kế tiếp.

Trường hợp của Th/úy BT Kỳ là khi thầy mới biểu diễn xoáy vòng lần đầu thì anh đã thấy chóng mặt, không chịu đựng được 'negative g's' nên anh xin 'DOR' (drop on request) tự bị loại.

Ở hangar, khóa sinh sống rất thoải mái, họ coi nhau như anh em một nhà. Hằng ngày sau khi bay về thì tụi tôi chơi một tí thể thao như 'volley-ball' (bóng chuyền), 'horse shoe' (thảy móng ngựa). Tinh thần đồng đội rất cao. Giữa các 'flight' (phi đội), họ tranh nhau để có điểm cao về bay trong tuần (student of the week) hoặc phi vụ xuất sắc trong tháng (flight of the month). Anh Trương

PICS]https://hoiquanphidung.com/upload_hqpd5/pics_21/1656413978-download (26).jpg[/PICS]
VT-1 Eaglets


VT-2 Doer Birds


VT-3 Historical Patch

VT-3 Red Knights


đen nhà ta, khi bay lần đầu ‘baptême de l’air’ bị ói mửa đầy phi cơ. Về bến đậu anh phải tự tay lấy vòi nước xịt rửa phi cơ theo như tục lệ ở đây đòi hỏi. Vậy mà khi thi ra trường thì anh được bảng vàng đề danh ‘Student of the Week’. Chiều thứ sáu thì có ‘Happy Hours’ ở ngay tại quày giải khát ở đây: uống beer xả láng không tính tiền hoặc khi nào có người quên giở nón ra lúc bước vào quán thì phải bị phạt trả tiền nguyên chầu (round/ tournée) đó thôi.

Sau lần bay khảo sát kỳ đó, chúng tôi chỉ biết mình đã đậu, nhưng họ không có phát cho bất cứ bằng cấp hay làm lễ mãn khóa gì hết, mà chỉ cho biết là mình đã "pass the primary stage" (đậu lớp vở lòng). Rồi họ hướng dẫn cho mình 'check out' rời căn cứ Saufley, giao cho mình giấy tờ, quyển 'flight log book' (sổ ghi giờ bay) và bản đồ đi đường để qua căn cứ mới NAAS Whiting Field ở thành phố Milton, Florida, cách Saufley gần 40 mi. lái xe. Sở dĩ họ làm như vậy là vì chương trình đã ấn định bay bao nhiêu 'hops' là đủ. Hễ người nào đã xong một giai đoạn thì cứ qua giai đoạn kế tiếp liền, chớ không phải đợi cho đủ mặt cả toán rồi mới qua trường mới.

Ở đây mình học chương trình Căn bản Phi hành (Basic Training). Căn cứ Whiting có hai khu. Trường bay VT-2 dạy bay chuyển tiếp (transition), nhuần nhuyễn (precision) và nhào lộn (aerobatics) nằm ở Khu Bắc (North Field), còn Trường bay VT-3 dạy căn bản phi cụ (basic instrument), bay đêm (night flying), hợp đoàn (formation) và tác xạ (gunnery) nằm ở Khu Nam (South Field).

Trước tiên chúng tôi trình diện ở phi đoàn huấn luyện "Traron 2" (tắt của cụm từ training squadron VT-2).

Giai đoạn đầu là giai đoạn chuyển tiếp (transition stage) từ chiếc T-34B Mentor với công suất 225 mã lực, qua chiếc T-28B/C Trojan, mạnh gấp 6 lần, công suất là 1425 mã lực. Giai đoạn này kéo dài chỉ có 9 'hops', mỗi phi vụ khoảng 1.3 giờ (1giờ 20phút), 8 'hops' bay với thầy và 'hop' thứ 9 là phi vụ đơn phi.
Phương thức bay căn bản (basic air work) tương tự như ở mấy phi vụ đầu tiên bên Saufley, thêm vào đó cao độ làm việc cao hơn, trên 5000 bộ và phương thức báo cáo xin vào vòng đáp ở các sân bay phụ bên ngoài (outlying fields), cũng như thực tập đáp khẩn cấp (giả máy tắt) từ cao độ cao (simulated high altitude emergency).

Mặc dầu T-28 to lớn và mạnh khỏe hơn T-34 nhiều, nhưng bay T-28 rất thoải mái và có lẽ mình đã trưởng thành trong nghề bay hồi nào rồi mà không biết, nên thấy ít lo lắng căng thẳng hơn lúc trước nhiều. Ở Whiting xa lánh mặt trời nên sống rất dễ chịu, ăn uống vẫn ở nhà ăn chung, nhưng ở đây còn có khu giải trí ACRAC (Air Cadet Recreation Center). Sau giờ làm việc anh em hay tụ tập ở đây để nhậu nhẹt và nghe nhạc. Lần nào bước vào đây là anh nào anh nấy cũng đến quầy lấy một 'pitcher' (bốc 2 lít) bia đem về bàn. Cứ chiều thứ sáu là anh em về sớm, tắm rửa sạch sẽ, thay đồ 'civil', lái xe ra 'park' (công viên), dọc đường ghé vào chợ mua đùi gà, sườn heo hoặc bít-tết bò, mớ rau cải, để nấu cơm ta mà tha hồ thưởng thức. Có điều là mình không bao giờ rớ tới cái bếp vì có biết nấu ăn đâu, nhưng ăn xong thì anh em đi đâu thì đi, còn mình thì ở lại, rửa hết chén dĩa. Anh Lê Trai còn mướn cả nhà ngoài phố để ở với cô bồ, hiện giờ là Bà Lê Trai, trong mấy ngày cuối tuần nữa là khác. Mình qua đây cũng nhằm lúc mùa Xuân, nên có nhiều cuộc vui được tổ chức. Mấy trường đại học quanh đây tổ chức thi hoa hậu, đi diễn hành (pageant).

 


Hình chiếc T-28B của Trường bay VT-3 ở NAAS Whiting Field, Milton, Florida

Một buổi dạ vũ mùa Xuân (Spring Formal) được tổ chức ở đây và tục lệ là mình được chọn đào (partner/ partenaire) của mình trên một danh sách mà chưa có ai biết mặt nhau trước (blind date/ rendez-vous arrangé). Mít mình cứ nhắm vào tên nào kết thúc bằng 'o' hay 'a' (có nghĩa là tên của Xì (Spanish) may ra có thể thấp ngang tầm với mình, để khỏi phải ngước cổ lên khi trò chuyện, đỡ mỏi cổ.

Kế đến là giai đoạn nhuần nhuyễn (precision stage), trung bình là 7 'hops' (9.1 giờ). Ở một sân bay phụ, người ta vẽ một hình chữ nhựt có gạch chéo màu trắng ở đầu phi đạo, vừa đủ an toàn để phi cơ chạm bánh lúc đáp. Khóa sinh phải tập chạm bánh trong ô này lúc hạ cánh. Những động tác bay căn bản (basic air work) được luyện cho đến mức dịu dàng (smooth) (tay lái lụa). 'Wingover'/ renversement luôn được luyện tập trong mỗi 'hop': vừa kéo mũi phi cơ lên thẳng đứng, vừa quẹo gắt, gần vào triệt nâng (stall), rồi nhả cánh lại ở 180° đổi hướng và hạ mũi phi cơ xuống để lấy lại tốc độ bình phi.

Sau khi được thả 'solo', ai cũng muốn chứng tỏ ra mình đã trưởng thành trong nghiệp bay này, nên đôi khi cũng liều một chút để làm ra vẻ anh hùng. Sáng hôm đó, mình và anh Võ Ngọc Trinh lên phi đoàn để tìm xem có phi cơ khả dụng đặng cùng nhau làm một phi vụ đơn phi. Trên bảng 'Notams' có đề “Weather overcast. Hold all solos!”, nghĩa là thời tiết mây che phủ toàn phần, đình chỉ mọi phi vụ đơn phi. Anh Trinh lên bảng ghi thêm “Launch all Vietnamese Solos!” “Thả bay đơn phi tất cả khóa sinh người Việt”. Mọi người tưởng anh chỉ đùa thôi và cười rộ lên, nhưng không dè anh lấy phi cơ đi bay thiệt, làm mình nổi máu anh hùng, cũng lấy một chiếc mà ra theo anh ấy. Hai chiếc di chuyển ra đầu phi đạo thử máy. Thử máy tốt nhưng phi cơ mình bị hỏng vô tuyến. Mình bật đèn 'landing gear' (bánh đáp) lên để xin đài trở vào 'ramp'. Đài bật đèn xanh chấp thuận cho di chuyển vào, thì anh Trinh đã cất cánh đi mất rồi. Vào 'line shack' ghi 'yellow sheet' xong, tôi lủi thủi lội bộ về phi đoàn. Vừa mới bước vào thì mấy thằng bạn Mỹ hỏi: “Phải mầy mới vừa gọi đài xin đáp khẩn cấp đó không?” “Không. Phi cơ tao hỏng vô tuyến, tao chưa cất cánh.” Sau đó mới biết phi cơ anh Trinh bị mạt kim khí trong nhớt máy. Máy tắt trong lúc anh trở lại phi trường; anh phải hạ cánh ép buộc trên xa lộ. Có lẽ vì tránh giao thông trên xa lộ, phi cơ anh chạm một đầu cánh vào gốc cây to ở vệ đường, bị lật úp và bốc cháy. Cấp cứu không kịp, nên anh Trinh đã tử nạn.

Giai đoạn này là giai đoạn nhào lộn trên không (aerobatic phase). Chương trình 10 'hops' gồm 4 'hops' bay với thầy (dual hop) và 6 'hops' bay 'solo'. Những chiêu thức căn bản như làm 'loop', lăn xoắn ốc (barrel roll), lăn tròn (aileron roll), 'immelmann' (½ loop lên tới đỉnh, đang lật ngửa (upside-down) thì 'roll' trở cánh lại vị thế bình phi), 'half-Cuban eight' (½ vòng số 8, làm ¾ 'loop' mũi phi cơ đang đi xuống ở hướng 180° thì 'roll' trở cánh thăng bằng lại), 'Cuban eight', 'spin' (xoáy vòng). Mỗi chiêu đều bắt đầu bằng tốc độ bay (airspeed) khác nhau và phải luôn giữ hòn bi của đồng hồ chỉ độ quẹo (turn-and-slip indicator) ngay giữa.

Trong giai đoạn bay chuyển tiếp (transition), nhuần nhuyễn (precision) và nhào lộn (aerobatics) mà anh em thường gọi tắt là giai đoạn "TPA", thì khóa sinh sáng bay chiều học địa huấn hoặc ngược lại sáng học địa huấn chiều bay, ở VT-2, và phải mất hết 8 tuần. Còn ở VT-3 thì 20 tuần phi huấn và 14 tuần địa huấn gối đầu lên nhau. Tổng cộng thời gian ở hai trường bay này tròm trèm với một năm học (scholar year) nên anh Phạm Xuân Thu đã ghi danh theo học trường Milton College ở ngoài phố. Chúng tôi vẫn giữ lại căn phòng ở 'cadet barracks' mà chỉ đổi trường bay VT-3 ở Khu Nam của Căn cứ NAAS Whiting Field.

Giai đoạn đầu là Huấn luyện Phi cụ Căn bản (Basic Instrument). Suốt thời gian này bay với thầy và khóa sinh luôn chui vào 'hood' (mui che), thực tập 'scan' (nhìn lướt qua lại) mấy phi kế như 'attitude gyro' (thế bay), 'turn-and-slip indicator' (độ quẹo), 'rate-of-climb' (độ lên xuống cao độ), 'altimeter' (cao độ kế), 'airspeed indicator' (tốc độ kế), 'accelerometer' (gia tốc kế chỉ G’s). Khi làm 'slow flight' còn cần phải theo dõi 'cylinder head temperature indicator' (đồng hồ nhiệt độ đầu xy-lanh), lập lại mấy chiêu bay nhào lộn sử dụng phi kế, và vào cận tiến có đài hướng dẫn [shoot GCA (ground control approach)].

Giai đoạn kế là Huấn luyện bay Hợp đoàn (Formation). 4 phi vụ đầu bay với thầy, 7 phi vụ kế tiếp bay 'solo'. 3 phi vụ bay 2 chiếc, 4 phi vụ bay 4 chiếc đều có thầy bay theo (chase). Thay phiên nhau làm 'lead' (dẫn phi tuần) và 'wingman' (đeo theo) để luyện tập 'breakup-and- rendezvous' (tách và tập hợp).

Bay hợp đoàn sát cánh (parade formation), phi cơ 'lead' (dẫn phi tuần) phải bay thật 'smooth', không động tới tay ga, giữ tốc độ an toàn cho phi tuần và nếu là 'slow flight' thì không quẹo vào trong 'echelon' (cánh nặng: phía có phi cơ đeo theo) nếu là phi tuần nặng (4 chiếc).

Hợp đoàn hành quân là 'tactical formation' với 2 chiếc gọi là phi tuần nhẹ (element/ patrouille légère) và 4 chiếc là phi tuần nặng (flight/ patrouille lourde). 4 chiếc là 2 phi tuần nhẹ và bay theo hình ngón tay (fingertip formation). Với hợp đoàn hành quân khóa sinh thực tập động tác phi hành 'flat scissors'/ ciseaux mà Hải quân Hoa kỳ gọi là "Thach Weave Pattern".

Hợp đoàn chiến đấu 'chase'/ 'combat formation' thực tập không chiến 'dogfight'/ combat tournoyant với 2 và 4 phi cơ. Thật ra ở đây phi cơ/ phi tuần số 1 dẫn đầu chỉ làm những phi tác nhào lộn căn bản và phi cơ/ phi tuần đuổi bắt (chase) chỉ đeo theo, áp dụng những kỹ thuật chuyên môn đã thu thập. Không làm 'spin', 'hammerhead' (wingover), 'snap roll', nói một cách khác là không áp dụng triệt nâng (stall/ décrochage) ở đây.


Thach Weave Pattern


Chiếc T-28C có thêm cái móc 'tailhook' sau đuôi và
cánh quạt vạc ngắn để đáp hàng không mẫu hạm


Giai đoạn kế tiếp là Huấn luyện Du hành (Navigation) ngày lẫn đêm. Du hành ngày thì phải biết phân biệt xa lộ, đường rầy xe lửa, sông, hồ, v.v…. Du hành đêm thì sử dụng 'dead reckoning techniques' (định hướng (cap) và tính giờ (minutage) dựa theo tốc độ mình bay). Rồi đến du hành bằng phi cụ (IFR), sử dụng thiết bị trợ hành 'TACAN', làm 'letdown' (xuống cao độ), 'holding pattern' (vòng chờ) và "GCA pickup on final" (cận tiến vòng chót có đài hướng dẫn). Làm 'Round Robin' ngày và đêm: bay lòng vòng từ Whiting Field đến Crestview 30 mi, lấy hướng đi Dothan 73 mi, quẹo qua hướng Andalusia 65 mi, rồi trở về lại Crestview 40 mi, để lấy hướng về đáp ở Whiting Field. Hai (2) phi vụ 'cross country' (băng đồng): đi xa ở lại đêm (overnight), thường thì đi Memphis, Tennessee (350 miles) hoặc Jacksonville, Florida (315 mi). Nhưng chúng tôi xin đi Moody AFB, Georgia (225 mi), may ra còn gặp được khóa sinh VN đàn em học ở đây, mặc sức mà đấu láo....

Giai đoạn cuối cùng là Huấn luyện Tác xạ (Gunnery), gồm có 5 phi vụ. Phi vụ đầu đi với thầy để biểu diễn và 4 phi vụ đầu chỉ làm 'dry run', không bắn. Phi vụ thứ 5 mới bắn bia, kết quả được ghi trên bia. Mình không thấy có thằng Mít nào ở lớp mình được "Top Gun", hạng nhứt về môn này.

Mình còn nhớ vào ngày thứ sáu 22 tháng 11, 1963, sau khi bay về, mình qua 'Admin Building' để 'check mail' (lấy thơ). Đang đứng đợi anh 'seaman' (lính) soạn thơ thì mình nghe tin tức qua cái 'radio' để bên cạnh: "Tổng thống John F. Kennedy đã bị ám sát hôm nay lúc 12 giờ 30 tại thành phố Dallas, Texas, trong lúc ông thăm viếng ở đây, để vận động tái tranh cử". Mình không chắc đã nghe đúng nên quay qua hỏi một bạn Mỹ cũng đi 'check mail' đứng kế bên. Anh không để ý cho tới khi mình hỏi thì mới lắng nghe. Tin này được đọc đi đọc lại nhiều lần trên đài. Anh Mỹ giựt mình mới chạy đi thông báo cho các bạn khác biết.

Sau khi học hết chương trình Phi huấn Căn bản ở Whiting Field, các khóa sinh phải trở về Saufley Field, Pensacola để chuẩn bị đáp hàng không mẫu hạm. Mình còn nhớ anh Nguyễn Đức Chương và anh Nguyễn Văn Phong được các huấn luyện viên đưa lên Hàng Không Mẫu Hạm CVS-16 USS Lexington để xem các khóa đàn anh tập đáp. Chiều hôm đó gió mạnh, có 2 khóa sinh đáp hụt, lọt xuống biển. Một anh đã bị cuốn vào chưn vịt của tàu mà chết. Tối hôm đó, mọi người trong toán của mình hùn tiền lại để cho anh Phong gọi điện thoại viễn liên (long-distance) về Phòng Sĩ quan Liên lạc ở Lackland AFB, Texas, mời Đ/úy Trịnh Hoành Mô qua Pensacola để can thiệp với nhà trường cho tụi này khỏi phải đáp hàng không mẫu hạm nữa.

Chúng tôi rời Pensacola, Florida đi Corpus Christi, Texas để theo chương trình Cao huấn Phi hành (Advanced Training). Ở VT-30, người ta xét thấy giờ bay mình ít quá để gắn cánh vàng, trước khi có thể xuyên huấn trên AD-6 Skyraider. Do đó trong lúc còn học địa huấn về chiếc phi cơ mới này, anh em trong toán chúng tôi ghi tên bay 'solo' T-28 để lấy thêm cho đủ 200 giờ bay ngày, 70 giờ bay đêm và phi cụ. Chúng tôi được gắn cánh bay vàng, "Wings of Gold", của Hải quân Hoa kỳ, được phát bằng "Naval Aviator"


Hải quân Đ/tá Capt F.K. Upham Chỉ huy trưởng Căn cứ Corpus Christi
gắn cánh bay vàng Naval Aviator cho Ch/úy Dan Hoài Bữu


Trên đây là lời Tuyên thệ khi làm lễ gắn cánh bay vàng


Hình chụp ở "Corpus Christi Cadet Barracks" lúc mới mang lon Chuẩn úy,
người mặc đồ 'civil' là anh Phạm Đăng Cường.


Bằng Hoa tiêu Hải quân do Phó Đô Đốc Fitzhugh Lee,
CHT Bộ Chỉ huy Phi huấn Hải quân


Trên đây là bức thơ khen thưởng của Đề đốc F. A. Branley, Chỉ huy trưởng BCH
Cao huấn Phi hành ở Corpus Christi, Texas, gởi cho phụ huynh khóa sinh.


và được gắn cấp bậc Chuẩn úy ngày 15 tháng 1, 1964. Nhà trường còn gởi thơ khen thưởng về cho cha mẹ của khóa sinh nữa.

Là sĩ quan rồi thì mình được quyền ở 'BOQ' (Bachelor Officer Quarters/ Khu Sĩ quan Độc thân) và ăn ở 'O’Club' (Officer Club/ Câu lạc bộ Sĩ quan). Nhưng tội gì, mình cứ tiếp tục qui chế sinh viên sĩ quan là ở 'Cadet Barracks' và ăn ở 'Mess Hall', tất cả đều miễn phí. Thời gian về nước chẳng còn bao xa. Chúng tôi được xuyên huấn trên AD-6/ A-1H Skyraider và lấy thêm 100 giờ bay ngày, 20 giờ bay đêm và phi cụ nữa, mới được ra trường, về nước.

Chương trình này đặt nặng về bay nhiều hơn, vì ở VT-30 chỉ có 6 tháng mà giờ bay lên đến 257.6 giờ, xấp xỉ bằng giờ bay cả năm trời ở VT-1, VT-2 và VT-3 cộng chung lại (271.7 giờ).

Giai đoạn đầu là giai đoạn làm quen (Fam Stage, viết tắt của Familiarization) với phi cơ 1 chổ ngồi (single seat) này, quá to lớn, quá nặng nề và quá khỏe mạnh, gần gấp đôi (2700 hp) so với chiếc T-28 (1425 hp). Không phải vì vậy mà khó lái. Nội cái việc mở máy không thôi đã là một vấn đề ngay từ đầu rồi. Hễ nhấn 'primer' (nút mồi xăng) lâu quá thì 'carburetor' (bình hoà khí) bị 'flooded' (ngộp), cơ trưởng lấy tay bóp mũi ra dấu. Còn hễ buông sớm quá thì bị 'backfire' (lửa sớm), cơ trưởng phải leo lên xem coi 'butterfly valve' có bị mở ra không, vì khi 'valve' bị mở thì xăng sẽ trào ra và sẽ gây hỏa hoạn. Phi vụ đầu tiên cũng đã là bay một mình rồi (solo), vì chỉ có một chổ ngồi thôi, làm sao có chổ nào để cho thầy theo đỡ cho mình được đây chớ.

Sau khi thử máy tốt, xin ra phi đạo và làm 'aborting take-off'. Nghĩa là nhả thắng, tống hết ga như lúc cất cánh



Chiếc A-1J của VT-30 ở NAS Corpus Christi, Texas, trong phi vụ huấn luyện bom và 'rocket'


VT-30 Spad Drivers


thiệt, gí cần lái về phía trước để nâng bánh đuôi lên, rồi gọi “Abort! Abort! Abort!”. Đồng thời cắt ga, kéo cần lái vào bụng, rẽ vào 'exit' (bretelle) để qua 'taxiway' và xin ra cất cánh trở lại. Mình phải làm như vậy đến 5 lần. Nếu thấy an toàn thì thầy mới cho cất cánh thật sự.

Mình nghe lớm mấy bạn đi trước, là lúc cất cánh, chưn mặt phải kềm bánh lái thật mạnh, và sớm cho bánh đuôi hỏng lên, thì mới dễ giữ phi cơ chạy thẳng được. Do đó, ngay ở 'ride' đầu tiên mình đã giữ được phi cơ chạy thẳng khá dễ dàng và vì quá hứng, nên quên cắt ga 'abort', cho phi cơ hỏng bánh, cất cánh đi luôn. Ông thầy trực coi 'mobile control' trong ngày hoảng lên, gọi cho thầy mình. Thầy đi với một hoa tiêu nữa, lấy một chiếc T-28 lên 'chase' đuổi theo mình và hướng dẫn mình về đáp ở Kingsville, một sân bay phụ bên ngoài có 2 phi đạo đôi (2 double runway) rất rộng. Ngay chổ giao nhau giữa 4 phi đạo đôi là một hình thoi rộng thênh thang, tha hồ mà tập đáp A-1, không thể nào có ai chạy ra cỏ được. Mình bỏ chiếc A-1 lại đó cho anh hoa tiêu lái về và leo lên ghế sau chiếc T-28, đi về với thầy. Như vậy là 'ride' đầu không kể rồi, còn gì nữa. Té ra cất cánh đâu có khó gì đâu, đáp mới là đáng kể. Trong giai đoạn đầu này, lúc nào không bay thì phải ra 'mobile control' để xem người ta đáp và nghe thầy sửa cho người ta thế nào là đúng 'three-point attitude' để luôn chạm bánh 3 điểm. Sau giai đoạn làm quen với phi cơ thì các giai đoạn khác gần như lập lại những gì đã học ở giai đoạn căn bản, và nhớ là không có làm 'spin' nhe. Trong các pha nhào lộn thì tha hồ kéo 'G’s', vì ai cũng có mặc 'G-suit' hết, 'aileron roll' là một động tác rất dễ biểu diễn nhưng không khéo hoặc lơ đễnh thì sẽ bị rơi vào 'split-S' (virgule).

Bay hợp đoàn đủ kiểu từ 'parade'/ close (sát cánh), 'scouting'/ tactical (hành quân), 'combat' (chiến đấu). Trong hợp đoàn hành quân, chúng tôi còn học làm 'weave'.

Hai chiếc hoặc hai 'element' (phi tuần) bay ngang nhau cách xa chừng 1 nm, thí dụ như số 2 hoặc 'element' thứ 2 bên phải. Khi 'lead' muốn đổi hướng thì lắc cánh (rock wings) cho tất cả thấy. Hai chiếc/ 2 'element' quẹo vào nhau: 'lead'/ phi tuần số 1 quẹo mặt vào số 2/ phi tuần thứ 2 trong lúc số 2/ phi tuần thứ 2 quẹo trái vào 'lead'.

Nếu muốn cho phi tuần quẹo trái, thì lúc 2 chiếc/ 2 'element' giao nhau, 'lead' nhắp cánh (dip wing) trái (cánh cao) một cái rồi mới trở cánh quẹo ngược qua trái; số 2/ phi tuần thứ 2 đang quẹo trái thì tiếp tục giữ quẹo trái cho đến khi nào 'lead' 'roll out' (bình phi trở lại ) thì mới 'roll out' theo.

Nếu muốn quẹo mặt, thì lúc giao nhau, 'lead' 'increase bank' bên mặt (nhắp cánh thấp), tiếp tục giữ quẹo mặt cho đến hướng mình muốn đi thì 'roll out'; số 2/ 'element thứ 2 đang quẹo trái, khi thấy 'lead' 'increase bank' thì phải trở cánh quẹo ngược qua mặt ngay, và cũng 'roll out' theo 'lead'.

Còn nếu chỉ muốn cho hai 'element' đổi bên thôi, thì ngay trước khi giao nhau, 'lead' nhẹ nhàng trở cánh thăng bằng, 'cross over' (bay chéo ngang trên lưng số 2/ 'element thứ 2) rồi mới bắt đầu quẹo trái; số 2/ element thứ 2 cũng trở cánh thăng bằng, 'cross under' (bay chéo ngang dưới bụng 'lead') rồi mới quẹo mặt....

Người 'lead' giỏi phải tính (plan) làm sao cho cả phi tuần được an toàn, vì số 2 hoặc 'element' thứ 2 luôn giữ ở dưới thấp hơn và còn 'wingman' của họ nữa. 'Scouting formation' (hợp đoàn trinh sát) áp dụng cho 'armed recce' (tuần thám võ trang), 'escort ship/ train/ convoy' (hộ tống tàu bè/ xe lửa/ đoàn xe), nên thường ở cao độ thấp, do đó 'lead' chỉnh (set) 'radar altimeter' ở 100 ft còn 'wingman' là 50 ft.

'Chase' là tập đuổi bắt. Mình bay ngang cánh với phi cơ của thầy. Thầy làm 'porpoise' ('dập dềnh' lên xuống) ra lệnh cho mình đổi qua cơ chế chiến đấu (combat power) (40”MAP–2600RPM–Mixture Rich) và vào 'trail' (ra sau đuôi) (đội hình chiến đấu). Thầy bắt đầu bằng vài cái quẹo gắt (steep turns), rồi làm đủ trò nhào lộn. Hễ quẹo thì mình giữ trong vòng quẹo và ở dưới thấp hơn. Nếu thầy kéo mũi phi cơ lên thì mình phải nhìn thấy lưng phi cơ của thầy. Thầy chúi mũi xuống thì mình phải nhìn thấy bụng phi cơ thầy. Luôn giữ khoảng cách an toàn, hễ thấy quá gần phi cơ thầy thì nhả phi cơ mình ra phía ngoài vòng quẹo,

 


Hình chụp anh Lê Như Hoàn có mặc áo chóng trọng lực (G-suit)


rồi trở vào vị trí ngay. Anh NT Thành, sau nhiều lần bị thầy sửa, nhưng vẫn tiếp tục tỏ ra thiếu an toàn (unsafe), nên bị loại ở giai đoạn này.

Về du hành thì có du hành ngày và du hành đêm, luyện tập đủ kiểu 'high altitude letdown' và 'holding pattern' sử dụng TACAN. Lấy cao độ 14,000 bộ, khi lên gần tới 12,000 bộ thì mở 'supercharger' (tăng áp) vì khí áp ở trên cao nhẹ quá....

Huấn luyện Oanh kích và Tác xạ (Bombing and Strafing) cũng có ngày và đêm.

Trước hết tập nhào xuống thả bom (dive bombing). Để mục tiêu ở ngay đầu súng bên trong (inboard gun) hoặc giá bom bên trong (inboard rack). Nếu mục tiêu bên cánh trái thì kéo mũi phi cơ lên chừng 60°, lật phi cơ qua trái thế nào để thấy mục tiêu ngay hướng 12 giờ, kéo mũi phi cơ xuống, đặt máy nhắm (gunsight / collimateur) hơi sau mục tiêu (aim short) một chút, rồi trở cánh cho phi cơ bay thẳng xuống vào mục tiêu. Di chuyển tới và ngừng 'crosshairs'/ réticule (vạch chữ thập) trên mục tiêu rồi mới bấm nút bom. Kéo mũi phi cơ lên 60° khỏi chưn trời và quẹo trái trở lại, nhìn theo người phía trước. Nếu phi tuần nhẹ (2 chiếc) thì quẹo gắt để bám theo kịp người trước. Còn hễ phi tuần nặng (4 chiếc) thì phải quẹo lơi đi. Đó là cách đánh bom trên cùng một trục (same axis pattern).

Chúng tôi còn tập đổi trục như cánh chuồn (cloverleaf pattern) nữa: giả dụ vòng (pass) 1 lấy trục từ hướng Nam 'roll in' lên hướng Bắc. Khi kéo lên thẳng hướng Bắc thì quẹo gắt qua trái hướng Tây. 'Roll in' vòng 2 từ Tây qua Đông. Kéo thẳng lên hướng Đông, quẹo gắt qua trái hướng Bắc. 'Roll in' vòng 3 từ Bắc xuống Nam. Kéo thẳng lên hướng Nam, quẹo gắt qua trái hướng Đông. 'Roll in' vòng 4 từ Đông sang Tây. Cứ mỗi lần đổi hướng 900 và ngay khi số 2 vừa kéo lên là 'lead' đã nhào vào mục tiêu (roll in) làm vòng oanh kích (pass) kế tiếp rồi.

Bom nổ thì sử dụng 'dive bombing' như trên, còn thả bom xăng đặc (napalm) thì bay sát ngọn cây (hedgehopping/ rase-mottes).

Tập bắn hỏa tiễn (rockets) và đại bác (cannon) thì phải ra bãi tác xạ (range) mới có bia (target/ cible) để nhắm và bay ở cao độ thấp (low level).

Ở đây hằng tuần, vào chiều thứ sáu, sau 4:00 giờ (hết giờ hành chánh) là có 'happy hours'. Người ta tổ chức đua nhau uống bia đổ vào đuôi bom 'napalm'. Chúng tôi chọn ra 2 nhóm, mỗi nhóm 6 người, đổ bia đầy 2 đuôi bom 'napalm', mỗi đuôi 10 gallons. Nhìn quanh quất chúng tôi chỉ toàn Mít không, vì khóa sinh Mỹ ai cũng đều chọn bay phản lực, chỉ có một vài hoa tiêu biệt phái tham chiến ở VN mới qua đây xuyên huấn trên loại phi cơ này. Một huấn luyện viên bấm đồng hồ để chúng tôi thay nhau nuốt bia ừng ực. Qua một vòng chưa thấy gì, nhưng qua lần thứ nhì thì khi chúng tôi vừa buông đuôi bom ra, bia tự vọt ào ào thành vòi ra khỏi miệng, mũi, trong tiếng hô "go, go" cổ võ của mọi người.

Mình còn nhớ vào đêm thứ sáu 28 tháng 2, 1964, mình cùng bạn bè lái xe về San Antonio ăn cơm Tàu và xem múa lân luôn, vì hôm nay người Tàu mừng Tân niên Giáp Thìn. Sẵn dịp chúng tôi sẽ ở lại Lackland AFB, để vui chơi ba ngày Tết cùng với mấy anh em SVSQ VN mới qua, học Anh văn ở đây. Anh Vũ Hiệp không đi với chúng tôi mà ở lại bay phi vụ khảo sát cuối cùng. Đó là một phi vụ thả bom 'napalm' ban đêm, trên bãi cát Padre Island. Nếu xong anh sẽ đạt được danh hiệu ‘Flight of the Month’ (Phi vụ xuất sắc trong tháng) nhằm lúc ra trường. Không may, phi cơ anh đụng vào một cồn cát, lật nhào, tiếp cứu không kịp. Đến chiều Chúa nhựt, chúng tôi trở về Corpus Christi, mới hay sự thể.

Toán đầu ra trường làm thủ tục rời căn cứ. Mình bị giữ lại làm phụ tá an phi cho thầy là Đ/úy Lt Lapham, Sĩ quan An phi của trường. Ngày ngày mình lên 'flight line', lấy mấy 'yellow sheet' ra xem phi cơ bị trục trặc chổ nào và dò trong TO-2 (Technical Manual/ Dash 2) xem làm thế nào để sửa chữa nó. Sau khi phi cơ đã được sửa chữa rồi thì mình bay thử (test), lẽ dĩ nhiên là thầy để cho mình thử những trường hợp nào dễ thôi. Ba tháng sau mình mới được làm thủ tục rời căn cứ để về xứ, thì mới biết anh em trong toán Pensacola đã qua Corpus Christi hết rồi và họ cũng cho tôi biết là anh NĐ Nghị đã tử nạn trong phi vụ bay đêm ở VT-3 vì bị vertigo, các anh Hồ Kế, NV Nhơn, NV Tám cũng không thấy qua Corpus Christi.

Nghĩ lại thấy mình may mắn nhiều hơn anh em khác trong khóa. Ở VT-1 thầy mình là Th/tá LtCdr Humphrey, phi đoàn phó. Ở VT-3 thầy mình là Lt Ortega, Sĩ quan Huấn luyện. Còn ở VT-30 thầy là Sĩ quan An phi. Các thầy có nhiều kinh nghiệm trong nghề và do đó mình được truyền thụ khá nhiều tuyệt chiêu.

Kiểm điểm lại quân số thì 2 Th/úy Bộ Binh Thủ Đức và 7 SVSQ trong toán đã chuyển ngành, số SVSQ còn lại thì đã mất thêm:

1. Anh Võ Ngọc Trinh tử nạn sau lần solo đầu tiên T-28.
2. Anh Vũ Hiệp tử nạn trong phi vụ A-1 cuối cùng ở VT-30.
3. Anh Nguyễn Đình Nghị tử nạn trong phi vụ bay đêm T-28 vì bị vertigo (chóng mặt mất phương hướng).
4. Anh Nguyễn Việt Tước tử nạn trên xa lộ SàiGòn – BiênHòa trong lúc di chuyển từ nhà lên trình diện đơn vị.

Chú thích:

1. NAVCAD: tắt của Naval Cadet: SVSQ Hải quân
MARCAD: tắt của Marine Cadet: SVSQ Thủy quân Lục chiến
A/C: tắt của Air Cadet/ Aviation Cadet: SVSQ Không quân
2. "All hands hit the deck": "Toàn thể thủy thủ lên boong" Deck: boong tàu. "Mọi người bước xuống giường"
3. steward: tên dùng cho 'maître d'hotel' ở dưới tàu
4. UNO: United Nations Organization: Liên hiệp quốc
NATO: North Atlantic Treaty Organization
WTO: Warsaw Treaty organization (của các nước cộng sản)
5. VT-1: V dành cho phi cơ có cánh cố định (fixed wings), khác với 'rotary wings' có cánh quay được, như trực thăng (nhưng phi đoàn trực thăng lại có phiên hiệu bắt đầu bằng H là 'helicopter') T là 'training', huấn luyện.

phượnghoàng kimcương

Kỷ niệm ngày Không lực VNCH
San Jose, California, 1 July 2022

Reader Response: (Khóa 61 SVSQ KQ tại Pensacola, Florida, Hoa kỳ)

Rate this item
(0 votes)